Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018

Bài 18


HIẾU KINH THÔNG

======================

KINH VĂN

孝(xiào) 經(jīng) 通(tōng),四(sì) 書(shū) 熟(shóu),

如(rú) 六(liù) 經(jīng),始(shǐ) 可(kě) 讀(dú)。

詩(shī) 書(shū) 易(yì),禮(lǐ) 春(chūn) 秋(qiū),

號(hào) 六(liù) 經(jīng),當(dāng) 講(jiǎng) 求(qiú)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Hiếu kinh thông
Tứ thư thục
Như Lục Kinh
Thủy khả độc
Thi thư dịch
Lễ xuân thu
Hiệu lục kinh
Đương giảng cầu

--------------------

TẠM DỊCH

Thông hiếu kinh
Thuộc tứ thư
Rồi đến lục kinh
Mới bắt đầu có thể đọc
Thi Thư Dịch Lễ Xuân Thu
Gọi là lục kinh
Nên tìm hiểu

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Hiếu Kinh (孝經):tên sách, là cuốn sách ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và Tăng Tử về đạo hiếu.
(2) Thông (通):hiểu rõ
(3) Thục (熟):thuộc
(4) Như (如):giống như
(5) Lục kinh (六經):chỉ sáu cuốn kinh thư, gồm có Thi, Thư, Dịch, Châu Lễ, Lễ Ký, Xuân Thu.
(6) Thủy (始):mới, bắt đầu
(7) Thi thư dịch (詩書易):chỉ ba cuốn Thi Kinh, Thượng Thư, Chu Dịch.
(8) Lễ xuân thu (禮春秋):chỉ cuốn sách Lễ Ký và Xuân Thu.
(9) Hiệu (號):xưng, gọi
(10) Giảng cầu (講求):tìm tòi nghiên cứu

--------------------

DỊCH NGHĨA

Người xưa khi đi học, đầu tiên là học thông Hiếu Kinh, sau đó đến bốn cuốn Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học, Trung Dung. Học thuộc hết tứ tư rồi mới bắt đầu học lục kinh.

Lục kinh là tên gọi của 6 cuốn Thi Kinh, Thượng Thư, Chu Dịch, Chu Lễ, Lễ Ký, Xuân Thu, đây là những sách kinh điển và quan trọng của Nho gia, chúng ta nên nghiên cứu và học tập những đạo lý trong đó.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Tứ thư, lục kinh là chỉ điều gì?

(2) Tứ thư và lục kinh là những sách của nhà Nho, tại sao nó lại quan trọng như vậy?

(3) Tại sao học các sách đó cần phải có thứ tự?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Đức hiếu cảm động trời cao”

Đây là câu chuyện cảm động về lòng hiếu thảo, được liệt vào Nhị thập tứ hiếu (24 câu chuyện về lòng hiếu thảo). Văn hóa truyền thống giảng “Bách thiện hiếu vi tiên” (trăm điều thiện, chữ hiếu đứng đầu), sự thành tâm hiếu thảo của Vương Tường đã đem lại phúc phận sau này cho ông. Điều này cũng nói lên quan niệm truyền thống “người làm việc thiện, tất có thừa phúc” và “thiện hữu thiện báo”.

Vương Tường là người ở vùng Lâm Nghi thuộc quận Lang Da thời nhà Tấn, tên chữ Hưu Chinh, là hậu nhân của Gián nghị đại phu Vương Cát thời nhà Hán.

Bản tính Vương Tường là người con có hiếu. Mẹ đẻ sớm qua đời khi ông còn nhỏ, người mẹ kế họ Chu tâm địa hẹp hòi ích kỷ, lại căm ghét Vương Tường nên thường dùng những việc nhỏ để mượn cớ đánh đập ông. Bà ta thường xuyên đặt điều hãm hại Vương Tường trước mặt cha ông, vì đó mà cha ông dần dần cũng không ưa ông nữa, bắt ông hàng ngày phải dọn sạch chuồng bò, làm các việc nặng nhọc. Tuy nhiên Vương Tường không chút oán trách, ngược lại ông lại càng hiếu thuận với cha mẹ.

Cha mẹ bị ốm, ông không dám lười nhác, sắc thuốc nhất định phải tự mình thử trước, cung kính hầu hạ cha mẹ. Một hôm mẹ kế muốn ăn cá chép tươi, khi đó trời lạnh tuyết rơi, nước sông đều đã đóng băng, Vương Tường vì nghĩ đến mẹ kế, không ngại trời lạnh, ông ra ngoài sông cởi quần áo để nằm xuống băng với hy vọng làm tan băng để bắt cá. Cuối cùng trời cao không phụ lòng người, lớp băng nứt ra, và hai con cá chép nhảy lên, Vương Tường vui mừng mang cá về nhà. Người trong thôn biết chuyện đều kinh ngạc, cho rằng đó là do lòng hiếu thảo của Vương Tường làm cảm động trời cao. Từ đó về sau câu chuyện về lòng hiếu thuận của Vương Tường được lưu truyền khắp nơi.

Những năm cuối thời Thục Hán, cha Vương Tường qua đời, gặp thời loạn lạc, Vương Tường chăm nom mẹ kế và em trai Vương Lãm, đồng thời dẫn họ đi ẩn cư tránh nạn ở Lư Giang. Ẩn cư 30 năm, châu quận muốn chiêu mộ ông ra làm quan, Vương Tường từ chối vì mẹ già em thơ. Đến khi mẹ kế qua đời, sau khi để tang mẹ xong, thứ sử Từ Châu là Lã Kiền ngưỡng mộ đức hiếu của ông, lần nữa mời ông ra làm thứ sử tá lại (chức quan phò tá thứ sử), nhưng ông vẫn từ chối không nhận lời. Em trai Vương Lãm bèn khuyên ông, đồng thời chuẩn bị đồ đạc cho ông, cuối cùng ông mới nhận lời. Khi đó trộm cướp hoành hành, Vương Tường dẫn binh đi dẹp yên trộm cướp, từ đó người dân Từ Châu có được cuộc sống an định, an cư lạc nghiệp.

Cuối cùng Vương Tường làm đến chức Thái Bảo, được phong làm Duy Lăng Công, thọ 85 tuổi. Vương Tường sinh được 5 người con trai, họ đều là những người sống thọ, làm quan hưởng vinh hoa, phúc lộc đầy nhà. Mọi người đều cho rằng đó là do đức hiếu nên mới được như vậy.

--------------------

NHẬN THỨC


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài 48

ẤU NHI HỌC ====================== KINH VĂN 人遺子,金滿籯; 我教子,惟一經。 勤有功,戲無益; 戒之哉,宜勉力。 -------------------- PHIÊN ÂM Nhân di tử, kim mãn doanh; Ng...