Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018
Bài 13
CAO TẰNG TỔ
======================
KINH VĂN
高(gāo) 曾(zēng) 祖(zǔ),父(fù) 而(ér) 身(shēn),
身(shēn) 而(ér) 子(zǐ),子(zǐ) 而(ér) 孫(sūn),
自(zì) 子(zǐ) 孫(sūn),至(zhì) 玄(xuán) 曾(zēng),
乃(nǎi) 九(jiǔ) 族(zú),人(rén) 之(zhī) 倫(lún)。
--------------------
PHIÊN ÂM
Cao tằng tổ, phụ nhi thân,
Thân nhi tử, tử nhi tôn
Tự tử tôn, chí huyền tằng,
Nãi cửu tộc, nhân chi luân.
--------------------
TẠM DỊCH
Ông sơ, ông cố, ông nội, cha rồi đến mình
Mình rồi đến con, đến cháu
Cháu rồi đến chắt, đến chút
Chín thế hệ này
Lập thành thứ bậc luân thường của con người.
--------------------
TỪ VỰNG
(1) Cao (高):Cao tổ, ông nội của ông nội hay còn gọi là kị
(2) Tằng (曾):Tằng tổ (ông cố), ông nội của cha hay còn gọi là cụ
(3) Tổ (祖):Tổ phụ (ông nội), cha của cha
(4) Phụ (父):cha
(5) Tử (子):con
(6) Tôn (孫):Tôn tử (cháu), con của con
(7) Huyền (玄):Huyền tôn (chắt), cháu bốn đời còn gọi là chắt
(8) Tằng (曾):tằng tôn, con của cháu hay còn gọi là chút
(9) Nãi (乃): là
(10) Cửu tộc (九族): quan hệt huyết thống 9 thế hệ
(11) Nhân chi luân (人之倫):luân thường của con người, thường gọi là luân thường
--------------------
DỊCH NGHĨA
Cao tằng tổ (kị) sinh ra tằng tổ phụ (cụ hay cố), tằng tổ phụ sinh ra tổ phụ (ông nội), tổ phụ sinh phụ thân (cha), phụ thân sinh ra chúng ta, chúng ta sinh ra con, con sinh ra cháu, cứ như thế từng đời nối tiếp nhau phát triển.
Người xưa gọi là cửu tộc tức là từ cao tổ, tằng tổ, tổ phụ, phụ thân, bản thân mình, con, cháu, chắt, chút. Bao gồm bốn thế phía trên mình và bốn thế phía dưới mình, là có quan hệ huyết thống và thân thiết nhất với mình. Cửu tộc đại biểu cho mối quan hệ luân thường có tôn ti trật tự có lớn có nhỏ của nhân loại.
--------------------
THẢO LUẬN
(1) Bạn biết trong họ hàng gia tộc mình gồm có những ai? Quan hệ giữa bạn và các thành viên trong họ hàng như thế nào? Hãy chia sẻ cùng mọi người nào.
(2) Hãy hỏi bất cứ một người lớn tuổi nào trong họ hàng, bảo họ chia sẻ câu chuyện họ phấn đấu khi còn trẻ.
--------------------
CÂU CHUYỆN
“Uống nước nhớ nguồn”
Dữu Tín là người thuộc Nam triều thời kỳ Nam Bắc triều. Lương Nguyên Đế phái ông đi sứ sang Bắc triều nhà Tây Ngụy. Trong thời gian ông đi sứ, triều Lương bị Tây Ngụy tiêu diệt, Dữu Tín bị giữ lại Trường An (đô thành của Tây Ngụy). Năm đó Dữu Tín 42 tuổi.
Mặc dù Bắc triều phong ông làm đại tướng quân, nhưng ông lại rất muốn trở về quê hương, Nam triều cũng mấy lần đòi Dữu Tín từ Bắc triều nhưng đều không được. Trong 28 năm ở Bắc triều, Dữu Tín thường xuyên nhớ về cố quốc và quê nhà, trong bài “Chủy điệu khúc” ông viết: “Lạc kỳ thực giả tư kỳ thụ, ẩm kỳ lưu giả hoài kỳ nguyên” (tức là khi ăn trái phải nhớ tới cây đã cho ta trái, khi uống nước cần nhớ về nguồn nước).
Câu thành ngữ “Uống nước nhớ nguồn” có nguồn gốc từ đó với ý nghĩa làm người thì không được quên nguồn gốc của mình, luôn phải nhớ đến công ơn của những người đã giúp cho ta có được thành quả như ngày hôm nay.
--------------------
NHẬN THỨC
Bài 12
VIẾT HỶ NỘ
======================
KINH VĂN
曰(yuē) 喜(xǐ) 怒(nù),曰(yuē) 哀(āi) 懼(jù),
愛(ài) 惡(wù) 欲(yù),七(qī) 情(qíng) 具(jù)。
匏(páo) 土(tǔ) 革(gé),木(mù) 石(shí) 金(jīn),
絲(sī) 與(yǔ) 竹(zhú),乃(nǎi) 八(bā) 音(yīn)。
--------------------
PHIÊN ÂM
Viết hỉ nộ, viết ai cụ
Ái ố dục, thất tình cụ
Bào thổ cách, mộc thạch kim
Tư dữ trúc, nãi bát âm
--------------------
TẠM DỊCH
Nói về vui, về giận, về đau thương, về sợ hãi
Về yêu, ghét và ham muốn, bảy thứ tình đều có trong mỗi người
Bào, thổ, cách, mộc, thạch, kim
Tư và trúc, đó là tám loại dụng cụ âm nhạc
--------------------
TỪ VỰNG
(1) Hỷ (喜): vui mừng
(2) Nộ (怒): tức giận
(3) Ai (哀): đau thương
(4) Cụ (惧): sợ hãi
(5) Ái (爱): yêu thích
(6) Ố (恶): ghét, ghen ghét
(7) Dục (欲): muốn, ham muốn, một loại ý niệm mong muốn được thỏa mãn
(8) Thất tình (七情): bảy thứ tình cảm hỷ nộ ai cụ ái ố dục
(9) Cụ (具): có, có sẵn
(10) Bào (匏): nhạc khí làm bằng vỏ quảbầu như đàn tính, đàn bầu
(11) Thổ (土): chỉ các nhạc khí làm bằng đất nhưtrống đất
(12) Cách (革): chỉ các loại nhạc cụ được làm bằng da động vật; dùng gọi các loạitrống mặt bịt bằng da như trống cái
(13) Mộc (木): chỉ các nhạc khí bằng gỗ như song loan, mõ.
(14) Thạch (石):chỉ các nhạc khí chế tác bằngđá như đàn đá, khánh đá
(15) Kim (金):chỉ nhạc khí có dây bằng sắt.
(16) Ti (絲):tơ, chỉ các loại đàn dây như đàn hồ, đàn nhị.
(17) Trúc (竹):chỉ nhạc khí dùng hơi thổi, chế tác từ câytrúc như tiêu, sáo
(18) Âm (音):vốn để chỉ thanh âm, trong bài là chỉ về nhạc cụ
--------------------
DỊCH NGHĨA
Vui mừng, tức giận, đau buồn, sợ hãi, yêu thích, ghét và ham muốn là bảy loại tình cảm của con người khi sinh ra đã có.
Người Trung Quốc cổ đại dùng tám loại nguyên liệu gồm quả bầu hồ lô, đất sét, da động vật, gỗ, đá ngọc, kim loại, tơ, ống trúc để làm nhạc cụ và gọi đó là bát âm. Do các nhạc cụ được làm từ các chất liệu khác nhau nên âm thanh phát ra từ các nhạc cụ đó cũng khác nhau và mang nét đặc sắc riêng.
--------------------
THẢO LUẬN
(1) Một người thông minh, có sự tu dưỡng rèn luyện sẽ biết cách khống chế và làm chủ tình cảm của mình. Bạn có thể phân biệt được các loại tình cảm của mình không?
(2) Khi tâm trạng của bạn không tốt, bạn sẽ khống chế nó thế nào?
(3) Bạn đã học qua loại nhạc cụ nào chưa? Hãy chia sẻ với mọi người về cảm nhận của bạn khi học loại nhạc cụ đó nào.
--------------------
CÂU CHUYỆN
“Hoàng Đế và âm nhạc”
Đối với người Trung Quốc cổ đại mà nói, âm nhạc là công cụ để liên hệ với Thần. Âm nhạc không chỉ để hưởng thụ và giải trí, mà còn là lễ tiết để điều hòa mối quan hệ giữa trời và đất.
Các nhạc cụ của Trung Quốc được phát minh từ rất sớm, trong cuốn Thi Kinh cũng thường xuyên nhắc tới các loại nhạc cụ. Theo các sách sử ghi chép, Phục Hy là người chế tạo ra đàn sắt, Nữ Oa chế tạo ra tiêu, Linh Luân chế tạo ra chuông, Thần Nông chế tạo ra ngũ huyền cầm.
Hoàng Đế lệnh cho Linh Luân chế định ra nhạc luật, đặt ra 12 luật (12 thang âm). Linh Luân ở trên núi Tây Sơn tìm được loại trúc thô thích hợp để làm nhạc cụ, ông dùng những cây rắn chắc nhất gọt thành sáo trúc. Khi ông thổi cây sáo mình vừa làm, có mấy con chim phượng hoàng đậu xuống quanh những cây ở gần ông, chim trống bắt đầu hót trước, âm đầu tiên của nó giống với âm phát ra từ cây sáo trúc của Linh Luân, sau đó lại hót tiếp 5 âm nữa, Linh Luân nhanh chóng gọt thành cây sáo có thể phát ra 5 âm đó. Phượng hoàng mái hót tiếp 6 âm, Linh Luân lại nhanh chóng gọt ra cây sáo trúc phát ra được 6 âm đó. Linh Luân sắp xếp trình tự của 12 âm đó xong, liền hoàn thành 12 âm luật. Vì để bảo tồn lâu dài 12 âm này, Hoàng Đế đã hạ lệnh đúc ra 12 chuông đồng có thể tái hiện chính xác 12 âm của sáo trúc, sau đó, tất cả các thang âm của các nhạc cụ bắt buộc phải đúng với âm của chuông đồng.
Ngoài việc hạ lệnh cho Linh Luân chế tạo chuông ra, trong cuộc chiến với Xi Vưu, vì để nâng cao sĩ khí chiến đấu của binh sĩ, Hoàng Đế đã làm ra một loại trống trận đặc biệt, và còn đích thân đánh để cổ vũ uy thế của đội quân. Loại trống này được làm từ da được phơi khô của một loại quái thú ở Đông Hải có tên là “Quỳ”, còn dùi trống được làm từ khúc xương to nhất trên người Thần Sấm. Khi Hoàng Đế đánh vào chiếc trống trận đặc biệt này, tiếng trống vọng xa hơn 500 dặm, làm trời đất rung chuyển.
Ngoài ra, khi Hoàng Đế gặp mặt các Quỷ Thần trên núi Thái Sơn, còn sáng tác ra khúc nhạc tên “Thanh Giác”, khúc nhạc này có khí thế hùng hồn, có thể “kinh động trời đất, quỷ thần phải khóc”, đây thực sự là bản nhạc trên Thiên giới, người phàm không thể nghe được. Hơn nữa, sau khi Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu, để chúc mừng thắng lợi, ông đã sáng tác ra bản nhạc có khí thế phi phàm có tên “Cương cổ khúc”.
--------------------
NHẬN THỨC
Bài 11
ÐẠO LƯƠNG THÚC
======================
KINH VĂN
稻(dào) 粱(liáng) 菽(shú),麦(mài) 黍(shǔ) 稷(jì),
此(cǐ) 六(liù) 谷(gǔ),人(rén) 所(suǒ) 食(shí)。
马(mǎ) 牛(niú) 羊(yáng),鸡(jī) 犬(quǎn) 豕(shǐ),
此(cǐ) 六(liù) 畜(chù),人(rén) 所(suǒ) 饲(sì)。
--------------------
PHIÊN ÂM
Đạo lương thục, mạch thử tắc,
Tử lục cốc, nhân sở thực.
Mã ngưu dương, kê khuyển thỉ,
Tử lục súc, nhân sở tự.
--------------------
TẠM DỊCH
Lúa, kê, đậu, lúa mạch, lúa nếp cao lương,
Là sáu loại đồ ăn của con người.
Ngựa, trâu, dê, gà, chó lợn,
Là sáu loài vật mà con người nuôi
--------------------
TỪ VỰNG
(1) Đạo (稻): chỉ cây lúa, hạt lúa sau khi tách vỏ thì gọi là gạo (đại mễ).
(2) Lương (粱): thường gọi là Túc, chính là kê (tiểu mễ), hạt sau khi tách vỏ thì được hạt gạo kê .
(3) Thục (菽): tên gọi chung các loại đậu (đỗ)
(4) Mạch (麦): lúa mạch; mạch có nhiều loại gồm lúa mì (tiểu mạch), đại mạch, mạch đen, yến mạch, v.v.
(5) Thử (黍): lúa nếp, lá mỏng dài và nhọn, có lông thô, gân lá song song, hạt trắng hoặc vàng, có chất dính.
(6) Tắc (稷): lúa nếp; có hai loại, loại có nhựa dính gọi là thử (黍), loại không dính gọi là tắc (稷), hiện nay gọi là Cao lương. (Ngày xưa cho rằng lúa tắc quý nhất trong trăm giống lúa, cho nên gọi thần lúa là tắc.)
(7) Cốc (谷): tên gọi chung của lương thực
(8) Sở (所): trong bài chỉ nghĩa “là” hoặc “được”
(9) Thực (食): đồ ăn
(10) Khuyển (犬): chó
(11) Thỉ (犬): lợn
(12) Súc (畜): loài vật mà con người nuôi dưỡng
(13) Tự (饲): nuôi, chăn nuôi
--------------------
DỊCH NGHĨA
Lúa, kê, đậu, lúa mạch, ngô, cao lương là sáu loại lương thực chính của con người. Ngựa, trâu, dê, gà, chó ,lợn là sáu loài động vật được con người nuôi dưỡng.
Tương truyền khi con người trải qua nạn đại hồng thủy, Thiên thần đã giúp đỡ con người trải qua khó khăn bằng cách mang sáu loại lương thực và sáu loài vật đó xuống nhân gian, đồng thời dạy con người cách chăn nuôi trồng trọt. Đây là sự từ bi của Thần đối với con người, từ đó khiến con người có thể tự lực cánh sinh, đồng thời lục súc và lục cốc cũng đã trở thành những thứ không thể thiếu trong đời sống thường ngày của con người.
--------------------
THẢO LUẬN
Trên thế giới, mỗi khu vực hay mỗi quốc gia sẽ có khí hậu, thổ nhưỡng, phong tục tập quán khác nhau, hãy kể ra những lương thực thực phẩm chính ở mỗi khu vực hay quốc gia mà em biết. Thử nghĩ xem, sáu loài vật kể trên có những đóng góp gì cho con người nào?
--------------------
CÂU CHUYỆN
“Nguồn gốc của lúa gạo”
Ngày xửa ngày xưa, trên mặt đất vẫn chưa có ruộng đồng và nhà cửa, chỉ toàn là rừng rậm hoang sơ. Khi đó con người vẫn còn sống dựa vào săn bắt và hái lượm. Rồi một hôm, bỗng nhiên trời như bị nứt ra, mưa lớn trút xuống ngày đêm không ngừng, tạo thành một trận lũ lụt lớn chưa từng có.
Rất lâu sau đó nước lũ mới rút, nhưng những động vật nhỏ đều bị nước lũ nhấn chìm, hoa quả cũng bị hư hỏng hết. Có người đi săn bắt để kiếm ăn nhưng lại bị loài khác ăn thịt, không có gì để ăn nên rất nhiều người đã bị chết đói. Loài người đáng thương chỉ biết cau mày ủ dột, không nghĩ được cách nào để vượt qua khó khăn.
Lúc này, trên một hòn đảo ở phương đông, nơi có nhiều Thiên thần ở đó, họ tận mắt chứng kiến đồ ăn của con người ngày càng khan hiếm. Họ vô cùng thương cảm với con người, thế là họ bàn nhau để giúp đỡ con người vượt qua khó khăn.
Sau cuộc họp bàn đó, họ phái Phục Hy dạy con người chăn nuôi, Thần Nông dạy con người trồng trọt. Trâu và ngựa chăm chỉ chịu khó được sai giúp con người cày bừa và kéo xe; còn sữa dê có thể là thức uống để con người bổ sung chất dinh dưỡng; gà thì mỗi buổi sáng sớm có thể gáy để đánh thức con người dậy bắt đầu ngày mới để làm việc; mặc dù lợn chỉ biết ăn và ngủ, nhưng có thể cung cấp thịt để làm thức ăn cho con người; còn chó thì lại trung thành trông giữ nhà.
Các hạt lúa trong thế giới của Thần, vốn ra dày đặc chi chít từ gốc tới ngọn của cây lúa, hơn nữa các hạt lúa chín cũng rất dễ rụng. Vấn đề là, các hạt lúa đưa đến nhân gian phải đi qua vùng biển lớn, các hạt lúa nhỏ bé thế này thì vận chuyển thế nào đây? Và do ai mang đi đây?
Về sau, các Thiên thần quyết định, để tránh bị rơi rụng trong quá trình vận chuyển đến nhân gian, các hạt lúa nhất định phải được cho dính lên khắp thân của ai gánh vác trách nhiệm để mang đi. Sau đó họ hỏi sáu loài trâu, ngựa, dê, gà, chó, lợn xem có loài nào muốn hoàn thành nhiệm vụ khó khăn này không.
Đầu tiên là câu trả lời gượng gạo của bò: “Tôi thân xác tuy to, nhưng chỉ biết dùng sức, e là không thể hoàn thành nhiệm vụ này. Tôi thấy hay là để cho ngựa nhanh nhẹn đảm nhận đi!”
Ngựa vừa nghe thấy thế đã vội nói: “Lông trên người tôi trơn bóng thế này, e là chẳng dính được hạt lúa nào đâu, hay là bảo gà làm!” Ngựa chỉ về phía gà đang đứng trên lưng mình.
Lúc này, gà liền lắc đầu nói: “Không được, không được! Tôi nhỏ con thế này thì mang được bao nhiêu chứ.”
Rồi đến lượt dê và lợn cũng đưa ra lý do từ chối. Lúc đó, chỉ có chó nghĩ đến cảnh con người sắp chết đói, trong lòng thấy thương xót nói: “Con người thật đáng thương, hãy để tôi đảm nhận nhiệm vụ này!”
Các Thiên thần vui mừng vỗ về chó và dặn dò: “Trên đường đi nhất định phải thật cẩn thận, những hạt lúa giống trên người ngươi còn sót bao nhiêu, sẽ quyết định việc sau này khi trồng tại nhân gian một cây lúa sẽ ra được bấy nhiêu hạt đấy!”
Thế rồi, chó liền làm cho thân mình ướt sũng, rồi đến bên đống thóc lăn lộn để cho từng hạt thóc vàng ươm dính lên người mình, sau đó cả nhóm sáu loài vật cùng xuất phát. Trên biển lớn mênh mông, từng con sóng dữ đã cuốn trôi dần từng hạt thóc trên người chó. Để bảo vệ những hạt giống quý giá này, chó đã dùng hết sức khom người dựng thẳng đuôi cố gắng vượt qua từng ngọn sóng.
Trải qua chặng đường gian nan, cuối cùng sáu loài đã đến nhân gian, đáng tiếc là những hạt thóc trên người chó đã bị sóng cuốn gần hết, chỉ còn sót lại một ít dính trên cái đuôi được giơ cao của chó.
Từ đó, cây lúa được trồng rộng dãi trong nhân gian, con người đã có những hạt cơm thơm ngon để ăn và không còn lo bị chết đói nữa. Nhưng bởi vì chỉ còn những hạt dính trên đuôi chó được giơ cao và không bị sóng cuốn mất là được mang đến nhân gian, nên về sau các cây lúa trồng trên mặt đất cũng chỉ ra có một bông ở trên ngọn mà thôi.
Về sau, vì để báo đáp công ơn của chó, con người cũng cho chó được ăn cơm. Còn trâu ngựa dê thì chỉ được ăn rơm rạ, gà và lợn thì chỉ được ăn cám!
Trong cuộc sống, chó là người bạn trung thành nhất của con người, đuôi của nó nhìn trông giống như bông lúa nặng trĩu hạt. Từ câu chuyện trên, chúng ta có thể thấy được sự vất vả trong quá trình đưa các hạt lúa giống đến nhân gian, cũng giống như những người nông dân vất vả bỏ ra biết bao mồ hôi công sức để làm ra từng hạt thóc. Do đó, chúng ta cần phải biết trân quý từng hạt lúa, hạt gạo đấy !
--------------------
TÂM ĐẮC
(1) Ngoài việc làm lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày ra, bạn có biết lúa gạo còn được dùng vào việc gì nữa không?
(2) Hãy kể về công đoạn người nông dân trồng và làm ra hạt lúa, hạt gạo.
Bài 10
VIẾT THỦY HỎA
======================
KINH VĂN
曰(yuē) 水(shuǐ) 火(huǒ) ,木(mù) 金(jīn) 土(tǔ) ,
此(cǐ) 五(wǔ) 行(xíng) ,本(běn) 乎(hū) 數(shù) 。
曰(yuē) 仁(rén) 義(yì) ,禮(lǐ) 智(zhì) 信(xìn) ,
此(cǐ) 五(wǔ) 常(cháng) ,不(bù) 容(róng) 紊(wèn ) 。
--------------------
PHIÊN ÂM
Viết thủy hỏa, mộc kim thổ,
Thử Ngũ hành, bổn hồ số.
Viết nhân nghĩa, lễ trí tín,
Thử ngũ thường, bất dung vấn.
--------------------
TẠM DỊCH
Nói về thủy về hỏa
Nói về mộc về kim về thổ
Bốn thứ đó
Được gọi là Ngũ hành
Nói về nhân về nghĩa
Nói về lễ về trí về tín
Đó được gọi là Ngũ thường
Tuân theo thì xã hội không bị rối loạn
--------------------
TỪ VỰNG
(1) Thử (此):này
(2) Hành (行):khái niệm cơ bản để phân loại mọi vật
(3) Bổn, còn được đọc là “bản” (本):căn bản, mấu chốt
(4) Hồ (乎): từ, khởi đầu từ
(5) Số (數):chỉ nguyên lý của tự nhiên
(6) Thường (常): chỉ về đạo lý vĩnh hằng bất biến
(7) Dung (容):cho phép, đồng ý
(8) Vấn (紊):loạn, đảo loạn
--------------------
DỊCH NGHĨA
“Ngũ hành” là chỉ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (hay kim loại, gỗ, nước, lửa, đất). Người Trung Quốc cổ đại cho rằng đây là những thứ cơ bản cấu thành các loại sự vật trong vũ trụ, giữa chúng với nhau đồng thời có sự tương sinh tương khắc (tức là cái này sinh ra cái kia đồng thời cái này cũng triệt tiêu cái khác), đó là do nguyên lý của tự nhiên quyết định.
“Ngũ thường” nói về năm phép tắc bất biến gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đây là chuẩn tắc làm người và xử lý mọi việc; yêu thương bảo vệ người khác, cố gắng vì lợi ích của người khác gọi là “nhân”; làm những việc đúng với lẽ phải gọi là “nghĩa”; khiêm nhường có lễ gọi là “lễ”; khả năng suy nghĩ cẩn thận, phân biệt rõ ràng gọi là “trí”; thái độ thành thật không lừa dối gọi là “tín”. Mỗi người đều nên tuân thủ năm phép tắc này, không được làm rối loạn dù chỉ một chút.
--------------------
THẢO LUẬN
1) Ngũ hành trong các phương diện như tự nhiên và cơ thể người là chỉ về cái gì?
2) Thử nói xem trong cuộc sống bạn thực hiện Ngũ thường như thế nào?
Giải đáp tham khảo
Mối quan hệ đối ứng của Ngũ hành và tự nhiên gồm:
Ngũ hành: mộc, hỏa, thổ, kim, thủy
Mùa vụ: xuân, hạ, trường hạ, thu, đông
Phương vị : đông, nam, tây, bắc, trung tâm
Khí hậu: gió, nắng, ẩm ướt, khô hanh, lạnh
Quá trình phát triển: sinh ra, lớn lên, già, thu hoạch, cất giữ
Ngũ vị: chua, ngọt, đắng, cay, mặn
Ngũ sắc: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen
Mối quan hệ đối ứng của Ngũ hành và tự nhiên gồm:
Ngũ hành: mộc, hỏa, thổ, kim, thủy
Tạng: gan, tim, lá lách, phổi, thận
Phủ: túi mật, ruột non, dạ dày, ruột già, bàng quang
Ngũ quan: mắt, lưỡi, miệng, mũi tai
Hình thể: gân, mạch máu, cơ, da, xương
Tình cảm: tức giận, vui thích, trầm tư, buồn, sợ hãi
--------------------
CÂU CHUYỆN
“Học thuyết Ngũ hành về tương sinh tương khắc”
Học thuyết về Ngũ hành nói về nguồn gốc và sự biến hóa đa dạng của mọi sự vật trên thế giới. Giữa Ngũ hành với nhau có sự tương sinh tương khắc. Tương sinh tức là mối quan hệ làm cho sinh sôi, dưỡng sinh, thúc đẩy nhau biến đổi; tương khắc bao hàm ý khắc chế, kiềm nén, kiềm chế, gạt bỏ, loại trừ.
Nguyên lý tương sinh trong Ngũ hành tức là: kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim. Còn tương khắc tức là: kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Mối quan hệ tương sinh tương khắc này của Ngũ hành đã duy trì mọi vật sinh trưởng bình thường và phát triển hài hòa.
Theo truyền thuyết có một người tên là Trứu Diễn đã đưa ra lý luận về Ngũ hành. Ông cho rằng người làm Thiên tử thì ắt phải có một đức trong Ngũ hành thì mới ngồi lên ngôi vị hoàng đế được. Nếu như đức hành của người làm vua đó mà yếu, thì sẽ bị một hành khác trong Ngũ hành thay thế.
Theo ghi chép, Hoàng Đế có “thổ” đức, nên ông làm Vương. Nhưng về sau, “thổ” đức suy yếu, “mộc” đức khắc thổ bắt đầu hưng thịnh, vua Vũ có “mộc” đức lên làm hoàng đế. Đến khi “mộc” suy yếu, “kim” đức khắc mộc bắt đầu hưng thịnh, vua Thương Thang có “kim” đức thay thế và lên làm hoàng đế. Tiếp đó là “hỏa” đức khắc kim bắt đầu hưng thịnh, và Châu Văn Vương với “hỏa” đức lên làm hoàng đế; cứ tuần hoàn như vậy liên tục không dừng.
CÂU CHUYỆN
“Kẻ bội tín quên nghĩa mất hết tất cả”
Ngu Phù là người bán sơn thuộc nước Việt thời Xuân Thu, cùng thời với Kế Nhiên và Phạm Lãi, không cam chịu sống đời nghèo khổ, nhìn thấy bạn bè nhờ buôn bán mà trở nên giàu có, nên cũng nóng lòng muốn thử buôn bán. Đầu tiên ông tìm đến Kế Nhiên để thình giáo cách làm giàu, Kế Nhiên nói với Ngu Phù: “Hiện nay con đường buôn bán sơn rất tốt, sao anh lại không trồng một ít cây sơn để lấy sơn đi mà bán?” Ngu Phù nghe xong trong lòng vui mừng, liền hỏi Kế Nhiên về kỹ thuật trồng sơn, Kế Nhiên tận tâm chỉ bảo. Sau khi trở về nhà, Ngu Phù thức khuya dậy sớm cần cù làm việc, cuối cùng đã khai khẩn được một vườn sơn với quy mô rất lớn.
Sau ba năm cây sơn đã to lớn, Ngu Phù vô cùng vui mừng. Bởi vì nếu có thể lấy được hàng trăm thùng sơn thì đã có thể kiếm được rất nhiều tiền. Thế rồi Ngu Phù chuẩn bị chuyển những thùng sơn lấy được đến nước Ngô để bán, đúng lúc đó có anh vợ đến thăm và nói với Ngu Phù: “Anh thường đến nước Ngô buôn bán, nên biết được ở đó người ta bán sơn thế nào, nếu làm tốt thì có thể có lãi gấp mấy lần đấy!”
Ngu Phù nóng lòng phát tài, lại hỏi làm thế nào mới kiếm được nhiều tiền hơn, anh vợ Ngu Phù nói: “Ở nước Ngô, sơn bán rất dễ, ta nhìn thấy không ít người nấu lá cây sơn thành cao, rồi dùng cao đó trộn vào sơn để bán, như thế có thể lãi được gấp mấy lần đấy, mà người nước Ngô lại không phát hiện được.” Ngu Phù nghe xong, ngày đêm nhặt lá sơn để nấu cao, xong rồi vận chuyển cao và sơn đến nước Ngô.
Khi đó bởi vì quan hệ nước Ngô và nước Việt vô cùng căng thẳng, không buôn bán qua lại được, nên sơn ở nước Ngô vô cùng hiếm. Lái buôn sơn ở nước Ngô nghe nói Ngô Phù mang sơn đến bán, họ vui mừng không ngớt, còn chạy cả ra ngoài thành để đón Ngu Phù, lại còn sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho anh. Ở chỗ trọ, các lái buôn sơn nước Ngô vừa nhìn thấy sơn của Ngô Phù đúng là loại tốt, bèn thương lượng về giá cả, xong rồi dán niêm phong và hẹn ngày mai đến giao tiền rồi lấy sơn.
Đợi những người buôn sơn rời khỏi, Ngu Phù bèn dỡ niêm phong, suốt đêm anh đổ cao sơn nấu sẵn vào trộn lẫn với sơn. Không ngờ do bận tay bận chân, nên vẫn để lại dấu vết. Hôm sau, các lái buôn đến như đã hẹn, họ phát hiện niêm phong trên thùng sơn có dấu vết bị bóc, nên họ nghi ngờ, rồi mượn cớ không đưa tiền và nói vài ngày nữa sẽ quay lại.
Ngu Phù ở trong quán trọ đợi mấy ngày cũng chẳng thấy mặt mũi những người buôn sơn đâu. Thời gian kéo dài, cao sơn bị trộn lẫn trong thùng sơn biến chất và hỏng. Kết quả, Ngu Phù không bán được ít sơn nào, cuối cùng phải đổ đi hết. Người buôn sơn nước Ngô nghe tin xong, đều phê bình: “Người làm buôn bán cần phải thành thật, chất lượng hàng hóa không thể lừa người được, hôm nay anh bị thế này, có ai lại thương hại anh chứ?”
Ngu Phù không còn tiền để về nước, đành ở nước Ngô xin ăn, lại thường bị người ta chế giễu, cuối cùng chán nản vì khốn khó mà chết nơi đất khách quê người.
--------------------
VIẾT VỀ TÂM ĐẮC
(1) Ngu Phù trong câu chuyện trên vì sao lại chết nơi đất khách?
(2) Bạn cảm thấy người buôn bán cần có đạo đức kinh doanh như thế nào? Hãy đưa ra những ví dụ phản diện từ xưa đến nay để nói rõ hơn.
Bài 9
VIẾT XUÂN HẠ
======================
KINH VĂN
曰(yuē) 春(chūn) 夏(xià),曰(yuē) 秋(qiū) 冬(dōng),
此(cǐ) 四(sì) 時(shí),運(yùn) 不(bù) 窮(qióng)。
曰(yuē) 南(nán) 北(běi),曰(yuē) 西(xī) 東(dōng),
此(cǐ) 四(sì) 方(fāng),應(yìng) 乎(hū) 中(zhōng)。
--------------------
PHIÊN ÂM
Viết xuân hạ
Viết thu đông
Thử tứ thời
Vận bất cùng
Viết nam bắc
Viết đông tây
Thử tứ phương
Ứng hô trung
--------------------
TẠM DỊCH
Mùa xuân mùa hạ
Mùa thu mùa đông
Bốn mùa đó
Vận chuyển tuần hoàn
Hướng đông hướng nam
Hướng tây hướng bắc
Bốn phương hướng
Cùng quy về một điểm ở trung tâm
--------------------
TỪ VỰNG
(1) Viết (曰):gọi là, rằng
(2) Thử (此):này, cái này
(3) Thời (時):mùa.
(4) Vận (運):chuyển động lặp đi lặp lại tuần hoàn theo một quỹ đạo nhất định
(5) Cùng (窮):dừng lại
(6) Phương (方):phương vị, phương hướng
(7) Ứng (應):đối ứng, tương ứng
(8) Hô (乎):ở, tại
(9) Trung (中):trung tâm
--------------------
DỊCH NGHĨA
Xuân hạ thu đông trong một năm gọi là tứ quý (hay bốn mùa), mỗi mùa đều có nét riêng, và thay đổi tuần hoàn không dừng, xuân qua hạ tới, thu đi đông về.
Đông nam tây bắc gọi là bốn phương (tứ phương), là chỉ các vị trí phương hướng. Bốn phương hướng này đều lấy một điểm ở trung tâm làm chuẩn, và chúng đối ứng với nhau, như thế ta mới có thể định ra được các phương vị.
--------------------
THẢO LUẬN
(1) Tại sao lại có khí hậu thay đổi theo từng mùa? Bạn thích mùa nào, tại sao?
(2) Nếu như ở trong rừng hoặc trên biển mà bị lạc đường thì bạn làm thế nào?
--------------------
CÂU CHUYỆN
“Hoàng Đế và xe chỉ nam”
Trước khi phát minh ra la bàn, con người dựa vào Mặt Trời và các ngôi sao để xác định phương hướng khi đi đường. Ban đêm, con người thời cổ đại quan sát sao Bắc Cực, ban ngày thì quan sát Mặt Trời để phân biệt phương hướng.
La bàn, kỹ thuật chế tạo giấy, kỹ thật in, thuốc súng là bốn phát minh của Trung Quốc thời cổ đại. Trong đó la bàn (hay kim chỉ nam) được phát minh sớm nhất. Hơn 2,000 năm trước, con người đã biết dùng loại đá có từ tính để chế tạo “tư nam”, dùng để xác định đâu là hướng nam đâu là hướng bắc, do đó có thể nói “tư nam” là tiền thân của kim chỉ nam. Nhưng loại “chỉ nam xa” cũng dùng để xác định phương hướng đã xuất hiện từ hơn 4,000 năm trước.
Khoảng hơn 4,000 năm trước, vùng lưu vực sông Hoàng Hà và sông Trường Giang của Trung Quốc có rất nhiều bộ lạc sinh sống. Hoàng Đế là thủ lĩnh của một bộ lạc nổi tiếng trong truyền thuyết.
Khi đó, ở phương đông có một thủ lĩnh của bộ tộc Cửu Lê tên là Xi Vưu không những khỏe mạnh, hung dữ mà còn mang tâm oán hận và không muốn phục tùng Hoàng Đế. Về sau, Xi Vưu liên kết với 81 người anh em của mình và bắt đầu cuộc đại chiến với Hoàng Đế. Vì để đối phó với kẻ địch mạnh lại có các loại vũ khí chế tạo từ đồng, Hoàng Đế đã nghĩ mọi kế sách, cuối cùng ông phát minh ra một loại vũ khí sắc nhọn là cung tên. Nhưng vì phương bắc có gió cát lớn, thường hay có những trận bão cát, nên để cho các binh sĩ không bị lạc mất phương hướng, thủ hạ của Hoàng Đế đã chế tạo thành công một thứ gọi là “chỉ nam xa” (xe chỉ nam).
Quân hai bên giao chiến tại Trác Lộc, mặc dù quân của Xi Vưu dũng mãnh, nhưng gặp quân của Hoàng Đế lại không chống đỡ được, lần lượt tháo chạy. Lúc này mặc dù trên chiến trường không có gió cát, nhưng lại dày đặc sương mù, quân của hai bên không thể phân biệt được đông tây nam bắc. Nhờ trên xe chỉ nam của Hoàng Đế có đặt một người làm bằng sắt, tay của người sắt luôn chỉ hướng nam, dựa vào chỉ dẫn của xe chỉ nam, quân của Hoàng Đế có thể phân biệt rõ được phương hướng trong làn sương mù dày đặc đó, nên đã đánh bại được quân của Xi Vưu và giành thắng lợi. Đây chính là “trận chiến Trác Lộc” thời viễn cổ.
--------------------
VIẾT VỀ TÂM ĐẮC
1) Hãy nghĩ xem làm thế nào để tìm ra phương hướng dựa vào Mặt Trời và các ngôi sao?
(2) Thử nghĩ xem la bàn xác định phương hướng như thế nào?
Bài 8
TAM TÀI GIẢ
======================
KINH VĂN
三(sān) 才(cái) 者(zhě),天(tiān) 地(dì) 人(rén),
三(sān) 光(guāng) 者(zhě),日(rì) 月(yuè) 星(xīng)。
三(sān) 纲(gāng) 者(zhě),君(jūn) 臣(chén) 义(yì),
父(fù) 子(zǐ) 亲(qīn),夫(fū) 妇(fù) 顺(shùn)。
--------------------
PHIÊN ÂM
Tam tài giả
Thiên Địa Nhân
Tam quang giả
Nhật nguyệt tinh
Tam cương giả
Quân thần nghĩa
Phụ tử thân
Phu phụ thuận
--------------------
TẠM DỊCH
Ba bậc tài
Thiên tài địa tài nhân tài
Ba nguồn sáng
Mặt trời mặt trăng ngôi sao
Ba mối quan hệ trong xã hội
Đạo nghĩa vua tôi
Cha con thân thiết
Vợ chồng hòa thuận
--------------------
TỪ VỰNG
(1) Giả (者):từ thay thế để chỉ người hoặc vật.
(2) Tam quang (三光):tức là ánh sáng Mặt Trời, Mặt Trăng, và các ngôi sao. Từ tam quang có nguồn gốc từ cuốn Hán Thư do Ban Cố viết: “Thiên đạo lẽ nào không thành tam, trời có tam quang: nhật, nguyệt, tinh; đất có ba hình dạng: cao, thấp, bằng phẳng; người thì có tam tôn: vua, cha, thầy.
(3) Cương (纲):Nghĩa đen chỉ sợi dây to làm đầu mối trên lưới, nghĩa bóng chỉ các phần chủ yếu của các sự vật, cũng chính là phép tắc, trật tự.
(4) Nghĩa (义):thích hợp. Hợp với nội dung và lý lẽ, chỉ các bên cần làm hết trách nhiệm và nghĩa vụ của mình.
(5) Thân (亲):thân cận, thân thiết, thương yêu.
(6) Thuận (顺):hòa thuận
--------------------
DỊCH NGHĨA
Thế nào gọi là “tam tài”? Tam tài chính là Thiên tài, Nhân tài, Địa tài, là ba nhân tố cơ bản cấu thành tiểu vũ trụ này của chúng ta. Thế nào gọi là “tam quang”? Tam quang chính là Mặt Trời, Mặt Trăng, các ngôi sao, là ba vật thể phát ra ánh sáng ở trên bầu trời, cũng chính là nguồn sáng chủ yếu trên Trái Đất.
Thế nào là “tam cương”? Tam cương chính là vua tôi, cha con, vợ chồng, tức là chỉ về ba mối quan hệ luân thường quan trọng giữa người với người. Lời nói hành động của vua và bề tôi phải phù hợp với lễ nghĩa và đạo lý, mỗi người đều làm hết trách nhiệm của mình. Cha mẹ và con cái phải thương yêu gắn bó với nhau, cha hiền con hiếu. Giữa vợ chồng với nhau cần sống hòa thuận, tôn trọng nhau.
--------------------
THẢO LUẬN
(1) Người xưa cho rằng con người là do Thần tạo ra, thiên địa vạn vật đều có nhân tố của Thần trong đó, Thần bao bọc che chở con người, cho nên con người cần kính trọng trời đất. Bạn nhìn nhận thế nào về chuyện này? Hãy chia sẻ cùng mọi người nào.
(2) Thời đại ngày nay đã khác xưa, mối quan hệ vua tôi mà người xưa nói tương đương với mối quan hệ nào trong xã hội hiện đại? Trong xã hội ngày nay, bạn thấy nguyên tắc “lời nói hành động giữa hai người phải phù hợp đúng chuẩn mực, mỗi người đều cần làm hết trách nhiệm của mình” có cần thay đổi không?
(3) Bạn và cha mẹ bạn thân thiết như thế nào? Bạn đối xử với cha mẹ như thế nào? bạn và cha mẹ bạn làm thế nào để hiểu nhau hơn?
--------------------
CÂU CHUYỆN
“Sự thông minh của vợ Hứa Doãn”
Hứa Doãn là người thuộc thời Tam quốc. Người vợ có tướng mạo xấu xí của Hứa Doãn là con gái của Nguyễn Cung, là em gái của Nguyễn Khản. Sau buổi hôn lễ, Hứa Doãn vẫn e ngại vì tướng mạo của vợ mà không dám bước vào phòng, việc này làm cho người nhà vô cùng ưu phiền. Sau đó có Hoàn Phạm đến thăm, biết chuyện của vợ chồng Hứa Doãn, Hoàn Phạm nói: “Không cần phải lo lắng, Hoàn Phạm nhất định có thể khuyên Hứa Doãn vào động phòng”. Rồi Hoàn Phạm nói với Hứa Doãn: “Nhà họ Nguyễn gả người con gái có tướng mạo xấu xí cho anh, nhất định họ có dụng ý sâu xa. Anh nên dụng tâm để ý, quan sát để hiểu rõ nguyên nhân”.
Sau đó Hứa Doãn quay trở về phòng, vừa nhìn thấy người vợ mới cưới, anh liền quay người định bỏ ra ngoài. Vợ Hứa Doãn biết một khi anh đã ra khỏi phòng thì khó mà quay lại, thế là cô bèn kéo tay áo chồng. Hứa Doãn vốn muốn làm khó vợ mình, nên anh bèn nói: “Người phụ nữ cần phải có tứ đức, vậy cô có được mấy chứ?”. Vợ Hứa Doãn trả lời: “Em chỉ là thiếu dung mạo xinh đẹp mà thôi! Nhưng mà một người đọc sách thánh hiền cần phải có nhiều đức tính tốt đẹp, xin hỏi phu quân có được mấy đức?”. Hứa Doãn tự tin nói: “Đều có tất cả”. Vợ Hứa Doãn lại nói: “Trong nhiều phẩm hạnh tốt đẹp thì đức là quan trọng nhất, phu quân chỉ háo sắc mà không biết quý trọng đức, thì làm sao có thể nói là có tất cả chứ?”. Hứa Doãn nghe xong vô cùng xấu hổ, từ đó về sau anh vô cùng kính trọng vợ mình.
Ghi chú:
(1) Vợ Hứa Doãn được xếp thứ tư trong bốn người đàn bà xấu nhất thời Trung Quốc cổ đại.
(2) Tứ đức là chỉ về công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ:
– “Công” là chăm sóc việc nhà cho sạch sẽ, trật tự, vén khéo; thêu thùa may vá, nấu nướng món ăn, nuôi dạy con cái.
– “Dung” là vẻ mặt và dáng dấp bề ngoài. Phụ nữ cần chăm sóc dung nhan cho tươi tắn, tướng đi dịu dàng, cử chỉ từ tốn đoan trang, thân thể sạch sẽ, quần áo tươm tất gọn gàng.
– “Ngôn” là lời nói phải thành thật, ngay thẳng, dịu dàng, xác đáng, gây được tình cảm tốt đẹp trong mọi người; tránh lời thị phi, đâm thọc, xảo trá lợi mình hại người.
– “Hạnh” là tính nết hiền lành, hòa nhã, hiếu thảo, kính trên nhường dưới, khoan dung, đoan chính.
--------------------
VIẾT VỀ TÂM ĐẮC
(1) Từ câu chuyện về vợ Hứa Doãn, bạn cho rằng điều quan trọng ở mỗi con người là diện mạo bên ngoài hay là phẩm chất tốt đẹp bên trong? “Diện mạo bên ngoài” ngoài chỉ về tướng mạo xinh đẹp và xấu xí ra thì nó còn dùng để chỉ về điều gì nữa? Theo bạn thường ngày chúng ta cần tu dưỡng phẩm hạnh của mình thế nào?
(2) Thử hỏi cha mẹ bạn để hiểu thêm về cách họ sống hòa thuận như thế nào? Khi có những ý kiến trái ngược hoặc không giống nhau thì cha mẹ bạn xử lý thế nào?
Bài 7
THỦ HIẾU ÐỄ
======================
KINH VĂN
首(shǒu) 孝(xiào) 弟(tì),次(cì) 见(jiàn) 闻(wén),
知(zhī) 某(mǒu) 数(shù),识(shì) 某(mǒu) 文(wén)。
一(yī) 而(ér) 十(shí),十(shí) 而(ér) 百(bǎi),
百(bǎi) 而(ér) 千(qiān),千(qiān) 而(ér) 万(wàn)。
--------------------
PHIÊN ÂM
Thủ hiếu đệ, thứ kiến văn
Tri mỗ số, thức mỗ văn.
Nhất nhi thập, thập nhi bách,
Bách nhi thiên, thiên nhi vạn.
--------------------
TẠM DỊCH
Hiếu thuận trước, tri thức sau
Hiểu con số, biết được chữ
Một tới mười, mười tới trăm
Trăm tới ngàn, ngàn tới vạn.
--------------------
TỪ VỰNG
(1) Thủ (首):đầu tiên, trước nhất
(2) Hiếu đệ (孝弟):Hiếu thuận cha mẹ, kính nhường, yêu mến anh em
(3) Thứ (次):thứ hai, sau đó
(4) Kiến văn (见闻):điều mắt thấy tai nghe, chỉ về những kiến thức thông thường hoặc tri thức
(5) Mỗ (某):dùng để gọi chung chung sự vật hoặc người không biết tên hoặc có tên nhưng không nói ra tên cụ thể
(6) Số ( 数):chỉ phép tính toán thời cổ đại, còn được gọi là một trong sáu tài nghệ (Sáu tài nghề trong nền giáo dục thời xưa gồm: lễ, nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, viết chữ và toán pháp)
(7) Thức (识):nhận thức, hiểu
(8) Văn (文):chỉ văn tự (chữ viết) và văn chương; cũng dùng nói chung về học vấn
(9) Nhất (一):số 1
(10) Nhi (而):đến, chỉ ý biến đổi
(11) Nhất nhi thập (一而十):con số cơ bản từ 1 đến 10
(12) Thập nhi bách (十而百):10 lần 10 là 100
(13) Bách nhi thiên (百而千):10 lần 100 là 1000
(14) Thiên nhi vạn (千而万):10 lần 10000 là 1 vạn tức 100000
--------------------
DỊCH NGHĨA
Làm người trước tiên phải biết hiếu thuận với cha mẹ, yêu thương anh chị em. Sau đó là học hỏi để tăng dần vốn hiểu biết của mình. Những kiến thức thông thường trong cuộc sống bao gồm cả khả năng hiểu được sự thay đổi các con số hay cách đếm số, hiểu được các phép tính toán, và còn có khả năng đọc hiểu các chữ viết.
Từ 1 đến 10 là những con số cơ bản, sau đó chúng ta mới có thể biết được 10 lần 10 là 100, 10 lần 100 là 1.000, 10 lần 1.000 là 1 vạn (tức 10.000). [Nghĩa là chúng ta cần học những điều cơ bản trước, rồi trên cơ sở đó mới có thể mở rộng vốn kiến thức của mình].
--------------------
THẢO LUẬN
(1) Trong văn hóa truyền thống phương đông từ xưa đến nay đều rất coi trọng hiếu thuận, cho nên mới có câu “Bách thiện hiếu vi thủ” (trăm điều, thiện hiếu là đầu tiên), bạn có biết vì sao không?
(2) Theo bạn, trau dồi phẩm hạnh đạo đức và học tập kiến thức, điều nào quan trọng hơn? Hãy trình bày suy nghĩ của bạn.
--------------------
CÂU CHUYỆN
“Chuyện về vua Thuấn”
Theo sử sách ghi chép lại thì vua Thuấn là một người vô cùng có hiếu. Cha của ông là một người mù tên Cổ Tẩu, mẹ ông qua đời từ khi ông còn nhỏ. Về sau, Cổ Tẩu lấy thêm người vợ lẻ, và người vợ lẻ tính tình hung ác này trở thành mẹ kế của Thuấn, bà ta không những không hề yêu thương Thuấn mà còn dùng mọi thủ đoạn để hãm hại Thuấn. Không lâu sau, người mẹ kế của Thuấn sinh được một người con trai và đặt tên là Tượng, cha và mẹ kế của Thuấn đều hết mực yêu thương Tượng. Mặc dù thường ngày Thuấn đều rất hiếu thuận với cha mẹ cũng như yêu thương em trai Tượng, nhưng ngược lại mẹ kế và em trai lại rất ghét Thuấn, còn người cha Cổ Tẩu thì chỉ biết nghe lời hai mẹ con Tượng đánh mắng Thuấn mà không phân rõ đúng sai.
Do sức khỏe của cha không tốt, cộng với em trai còn nhỏ tuổi, cho nên khi Thuấn còn rất nhỏ đã một mình ở dưới chân núi Lịch Sơn làm ruộng trồng trọt để nuôi sống gia đình. Theo truyền thuyết, vì lòng hiếu thuận của Thuấn làm cảm động trời đất, nên ngay cả voi cũng đến giúp Thuấn làm ruộng, chim bay đến giúp nhổ cỏ. Dù vậy nhưng cha, mẹ kế, em trai Thuấn đều không ưa gì nên họ hay tìm cơ hội để hãm hại, có lúc suýt chút nữa Thuấn đã mất mạng.
Thuấn cũng biết rõ cảnh ngộ của mình nên luôn luôn cẩn thận, do đó cậu luôn nghĩ được cách tránh khỏi những lần hãm hại của họ, và cũng không để bụng chuyện nào cả. Cậu không chút oán hận về những việc xảy đến, mà còn âm thầm chấp nhận mọi đối xử bất công với mình, ngược lại cậu luôn nghĩ cách để thay đổi cách đối xử của cha mẹ đối với mình và làm cho họ vui. Bởi vì đức hạnh của Thuấn vô cùng đáng quý, cho nên khi cậu mới 20 tuổi mà đã nổi tiếng gần xa bởi chữ hiếu.
Về sau, trong khi vua Nghiêu đang tìm người tài đức để kế vị, mọi người liên tục giới thiệu Thuấn. Mặc dù vua Nghiêu đã chấp nhận giới thiệu của các chư hầu khắp nơi, nhưng vì người dân, nên ông vẫn muốn đích thân kiểm tra Thuấn. Thế là ông bèn gả hai người con gái Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn; lại còn để cho Thuấn tiếp xúc với chín người con trai của ông, và ông ở bên quan sát xem Thuấn đối nhân xử thế ra làm sao.
Ngoài đó ra, vua Nghiêu còn để Thuấn lấy đức tính hiếu thuận cha mẹ yêu thương anh em để dạy bảo người dân, và người dân đều nghe theo; Thuấn xử lý các công việc triều chính vô cùng tốt đẹp, các quan đều phục tùng; vua Nghiêu còn sai Thuấn tiếp đãi chư hầu bốn phương đến triều đình diện kiến, các chư hầu đều cung kính nghe theo. Cuối cùng, vua Nghiêu sai Thuấn bảo vệ rừng núi, mặc dù Thuấn ở trên núi gặp phải mưa to gió lớn nhưng vẫn có thể phân biệt rõ phương hướng, không bị lạc đường.
Cuối cùng, vua Nghiêu thấy được Thuấn là người có phẩm hạnh cao thượng và có trí thông minh phi phàm, nên ông đã truyền ngôi vua lại cho Thuấn.
--------------------
VIẾT VỀ TÂM ĐẮC
Dưới đây có một số vấn đề được đưa ra sau khi đọc xong câu chuyện về vua Thuấn, bạn hãy suy nghĩ rồi nói ra suy nghĩ của mình.
(1) Vì sao vua Nghiêu lại chọn Thuấn làm người kế vị?
(2) Nếu như bạn là nhân vật chính trong câu chuyện này, gặp phải những đối đãi bất công như thế, bạn sẽ xử lý thế nào?
(3) Khi bạn và người nhà bất đồng ý kiến, bạn sẽ giải quyết thế nào?
(4) Điều quan trọng nhất của một người là phải hiếu thuận với cha mẹ, yêu thương nhường nhịn anh chị em. Thử nghĩ lại xem bạn đã làm được bao nhiêu rồi, còn những điều nào cần khắc phục?
(5) Đọc xong câu chuyện này, bạn học được điều gì?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bài 48
ẤU NHI HỌC ====================== KINH VĂN 人遺子,金滿籯; 我教子,惟一經。 勤有功,戲無益; 戒之哉,宜勉力。 -------------------- PHIÊN ÂM Nhân di tử, kim mãn doanh; Ng...
-
DOANH TẦN THỊ ====================== KINH VĂN 嬴秦氏,始兼并; 傳二世,楚漢爭。 高祖興,漢業建; 至孝平,王莾篡。 光武興,為東漢; 四百年,終於獻。 -------------------- PHIÊN ÂM Doanh Tầ...
-
THỦ HIẾU ÐỄ ====================== KINH VĂN 首(shǒu) 孝(xiào) 弟(tì),次(cì) 见(jiàn) 闻(wén), 知(zhī) 某(mǒu) 数(shù),识(shì) 某(mǒu) 文(wén)。 一(yī) 而...
-
TỐNG TỀ KẾ ====================== KINH VĂN 宋齊繼,樑陳承; 為南朝,都金陵。 北元魏,分東西; 宇文周,與高齊。 -------------------- PHIÊN ÂM Tống Tề kế, Lương Trần thừa; ...