Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018

Bài 48


ẤU NHI HỌC

======================

KINH VĂN

人遺子,金滿籯;

我教子,惟一經。

勤有功,戲無益;

戒之哉,宜勉力。

--------------------

PHIÊN ÂM

Nhân di tử, kim mãn doanh;
Ngã giáo tử, duy nhất kinh.
Cần hữu công, hí vô ích;
Giới chi tai, nghi miễn lực.

--------------------

TẠM DỊCH

Người ta để lại cho con đầy rương vàng
Ta dạy con chỉ có một bộ sách.
Siêng thì có công, ham chơi thì vô ích
Khuyên răn trò gắng sức học.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Người ta để lại cho con vàng rồng đầy rương; ta dạy cho con chỉ một bộ sách. Siêng thì có công, ham chơi thì không có ích. Khuyên răn trò gắng sức học.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 47


ẤU NHI HỌC

======================

KINH VĂN

幼而學,壯而行;

上致君,下澤民。

揚名聲,顯父母;

光于前,裕于后。

--------------------

PHIÊN ÂM

Ấu nhi học, tráng nhi hành;
Thượng trí quân, hạ trạch dân.
Dương danh thanh, hiển phụ mẫu;
Quang ư tiền, dụ ư hậu.

--------------------

TẠM DỊCH

Nhỏ thì học, lớn lên thì làm
Trên giúp vua, dưới làm ích cho dân
Tiếng tăm vang dội, cha mẹ vẻ vang
Rạng ngời về đời trước, truyền lại tới đời sau.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Lúc trẻ thì học, lúc lớn thì hành; trên giúp nên cho vua, dưới ra ơn cho dân, tiếng tăm vang vội, làm vẻ vang cha mẹ. Rạng ngời về đời trước, truyền lại tới đời sau.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 46


KHUYỂN THỦ DẠ

======================

KINH VĂN

犬守夜,雞司晨;

苟不學,曷為人?

蠶吐絲,蜂釀蜜;

人不學,不如物。

--------------------

PHIÊN ÂM

Khuyển thủ dạ, kê ti thần;
Cẩu bất học, hạt vi nhân?
Tàm thổ ti, phong nhưỡng mật;
Nhân bất học, bất như vật.

--------------------

TẠM DỊCH

Chó giữ nhà ban đêm, gà coi gáy buổi sáng.
Nếu không học sao đáng làm người?
Con tằm nhả tơ, con ông làm mật
Người mà không học chẳng bằng con vật.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Con chó giữ nhà ban đêm, con gà coi gáy buổi sáng, nếu trò chẳng học sao đáng làm người? Con tằm nhả tơ, con ông gây mật, người ta mà chẳng học chẳng bằng giống vật.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 45


ĐƯỜNG LƯU ÁN

======================

KINH VĂN

唐劉晏,方七歲;

舉神童,作正字。

彼雖幼,身己仕;

爾幼學,勉而致。

有為者,亦若是。

--------------------

PHIÊN ÂM

Đường Lưu Án, phương thất tuế,
Cử thần đồng, tác chính tự.
Bỉ tuy ấu, thân kỷ sĩ;
Nhĩ ấu học, miễn nhi trí;
Hữu vi giả, diệc nhược thị.

--------------------

TẠM DỊCH

Lưu Án đời Đường đang lúc bảy tuổi
Thi đỗ được khen là thần đồng, làm chức chính tự.
Trò còn nhỏ đi học hãy gắng sức đến nơi
Ai có làm như cũng đều được như vậy.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Lưu Án đời Đường, mới bảy tuổi thi đậu khoa Thần Đồng, làm chức Chánh tự, người ấy dẫu còn nhỏ mà đã làm quan. Vậy trò còn trẻ đi học, hãy gắng sức cho tới nơi. Người nào có làm, có học cũng được kết quả như vậy.


--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 44


THÁI VĂN CƠ

======================

KINH VĂN

蔡文姬,能辨琴;

謝道韞,能詠吟。

彼女子,且聰敏;

爾男子,當自警。

--------------------

PHIÊN ÂM

Thái Văn Cơ, năng biện cầm;
Tạ Đạo Uẩn, năng vịnh ngâm.
Bỉ nữ tử, thả thông mẫn;
Nhĩ nam tử, đương tự cảnh.

--------------------

TẠM DỊCH

Thái Văn Cơ có thể hiểu được tiếng đàn
Tạo Đạo Uẩn có thể ngâm khúc
Hai người con gái ấy thật thông minh sáng suốt
Trò là con trai nên tự biết cảnh tỉnh bản thân mình.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Nàng Văn Cơ họ Thái biện được tiếng đờn; Nàng Đạo Uẩn họ Tạ biết vịnh khúc ngâm. Hai người ấy là con gái mà còn sáng suốt thay! Vậy trò là con trai, hãy làm nên từ lúc trẻ.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 43


OANH BÁT TUẾ

======================

KINH VĂN

瑩八歲,能詠詩;

泌七歲,能賦碁。

彼穎悟,人稱奇;

爾幼學,當效之。

--------------------

PHIÊN ÂM

Oánh bát tuế, năng vịnh thi;
Bí thất tuế, năng phú kì.
Bỉ dĩnh ngộ, nhân xưng kì;
Nhĩ ấu học, đương hiệu chi.

--------------------

TẠM DỊCH

Oanh tám tuổi có thể ngâm vịnh bài thơ
Bí bảy tuổi có thể làm bài phú về cuộc cờ
Họ thông hiểu nên người đời gọi là kỳ
Người là học trò nhỏ nên bắc chước họ.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Bé Oanh tám tuổi biết vịnh thơ, bé Bí bảy tuổi biết làm bài phú về cuộc cờ. Hai người ấy thông hiểu sớm, mọi người khen là thần kỳ. Trò nên bắt chước họ.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 42


NHƯỢC LƯƠNG HẠO

======================

KINH VĂN

若梁灝,八十二;

對大廷,魁多士。

彼既成,眾稱異;

爾小生,宜立志。

--------------------

PHIÊN ÂM

Nhược Lương Hạo, bát thập nhị,
Đối đại đình, khôi đa sĩ.
Bỉ ký thành, chúng xưng dị;
Nhĩ tiểu sinh, nghi lập chí.

--------------------

TẠM DỊCH

Còn như ông Lương Hạo tám mươi hai tuổi
Đối đáp chốn triều đình, đậu đầu trong đám học trò.
Người ấy thành tựu rồi, dân chúng khen là lạ.
Này trò nhỏ, nên lập chí.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Như ông Lương Hạo tám mươi hai tuổi, thưa chốn đại đình, đậu đầu trong bọn học trò, người ấy làm nên muộn mọi người khen là lạ. Trò nên lập chí.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 41


TÔ LÃO TUYỀN

======================

KINH VĂN

蘇老泉,二十七;

始發憤,讀書籍。

彼既老,猶悔遲;

爾小生,宜早思。

--------------------

PHIÊN ÂM

Tô Lão Tuyền, nhị thập thất,
Thủy phát phẫn, độc thư tịch.
Bỉ ký lão, do hối trì;
Nhĩ tiểu sinh, nghi tảo tư.

--------------------

TẠM DỊCH

Tô Lão Tuyền hai mươi bảy tuổi
Mới nổi giận bèn đọc sách vở
Ông ấy già mà còn hối hận muộn
Này trò nhỏ, hãy sớm nghĩ suy.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Ông Lão Tuyền họ Tô, hai mươi bảy tuổi mới nổi giận, bèn đọc sách vở. Người ấy đã già còn ăn năn chậm. Vậy ngươi là trò nhỏ phải nêm sớm nghĩ.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 40



NHƯ NANG HUỲNH


======================

KINH VĂN

如囊螢,如映雪;

家雖貧,學不綴。

如負薪,如掛角;

身雖勞,猶苦卓。

--------------------

PHIÊN ÂM

Như nang huỳnh, như ánh tuyết;
Gia tuy bần, học bất chuế.
Như phụ tân, như quải giác;
Thân tuy lao, do khổ trác.

--------------------

TẠM DỊCH

Như chuyện để đom đóm trong túi, dùng ánh sáng tuyết đọc sách
Nhà tuy nghèo mà học không ngừng nghỉ
Như kẻ gánh củi trên vai, như người treo sách bên sừng.
Thân tuy khổ nhọc mà còn chịu khó học.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Như kẻ đựng đom đóm trong túi, như người hé sách theo ánh tuyết, nhà dẫu nghèo mà học chẳn nghỉ. Như kẻ gánh củi ở vai, như người treo sách bên sừng, mình dẫu nhọc, còn chịu khó học.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 39


PHI BỒ BIÊN

======================

KINH VĂN

披蒲編,削竹簡;

彼無書,且知勉。

頭懸梁,錐刺股;

彼不教,自勤苦。

--------------------

PHIÊN ÂM

Phi bồ biên, tước trúc giản;
Bỉ vô thư, thả tri miễn.
Đầu huyền lương, trùy thích cổ;
Bỉ bất giáo, tự cần khổ.

--------------------

TẠM DỊCH

Bện lá bồ làm vở, chẻ thẻ tre làm sách
Họ không có sách mà còn biết gắng công.
Treo đầu lê xà nhà, đâm dùi vào vế
Họ không có thầy người dạy mà siêng năng tự học.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Kẻ thì mở lá bồ làm vở, người thì chẻ tre làm thẻ viết sách học, hai người ấy không có sách còn biết gắng công. Lại có kẻ thì treo đầu lên rường nhà, người thì đâm dùi vô vế, hai người ấy chẳng có thầy dạy, mà tự mình siêng năng chịu khó học.


--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 38


TÍCH TRỌNG NI

======================

KINH VĂN

昔仲尼,師項橐;

古聖賢,尚勤學。

趙中令,讀魯論;

彼既仕,學且勤。

--------------------

PHIÊN ÂM

Tích Trọng Ni, sư Hạng Thác;
Cổ thánh hiền, thượng cần học.
Triệu Trung Lệnh, độc Lỗ Luận;
Bỉ ký sĩ, học thả cần.

--------------------

TẠM DỊCH

Xưa Trong Ni, học thầy Hạng Thác
Thánh hiền ngày xưa còn chăm học.
Triệu Trung Lệnh đọc sách Lỗ Luận
Đã làm quan hãy còn năng học.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Thuở xưa, đức Trọng Ni theo học thầy Hạng Thác, ngài là đấng thánh hiền đời xưa mà còn siêng học. Quan Trung Lịnh họ Triệu đọc sách Lỗ Luận, ông ấy đã làm quan mà còn siêng học.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 37


ĐỘC SỬ GIẢ

======================

KINH VĂN

十七史,全在茲;

載治亂,知興衰。

讀史者,考實錄;

通古今,若親目。

口而誦,心而惟;

朝于斯,夕于斯。

--------------------

PHIÊN ÂM

Thập thất sử, toàn tại tư;
Tải trị loạn, tri hưng suy
Độc sử giả, khảo thực lục;
Thông cổ kim, nhược thân mục.
Khẩu nhi tụng, tâm nhi duy;
Triều ư tư, tịch ư tư.

--------------------

TẠM DỊCH

Mưới bảy chuyện sử, tất cả đều ở đó
Ghi việc trị loạn, biết được thịnh suy.
Kẻ đọc lịch sử, xét bản chép thực
Thông xưa nay như thấy tận mắt
Miệng thì đọc, lòng thì suy
Sáng nghĩ đến, chiều cũng nghĩ đến.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Mười bảy giai đoạn lịch sử trọn ở đó, chép đời trị, đời loạn; cho biết vận hưng suy.

Kẻ đọc sách sử xét bổn chép sự thật, lạu thông chuyện đời xưa, đời nay mọi tưởng chuyện dường như hiện ra gần trước mắt. Miệng thì đọc lòng thì suy, buổi sớm và buổi chiều cứ theo đó mà đọc và suy.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 35 Bài 36


THÁI TỔ HƯNG
ĐÃI THÀNH TỔ
ƯNG CẢNH MỆNH

======================

KINH VĂN

太祖興,國大明;

號洪武,都金陵。

迨成祖,遷燕京;

十七世,至崇禎。

權阉肆,冦如林;

至李闖,神器焚。

清太祖,膺景命;

靖四方,克大定。

--------------------

PHIÊN ÂM

Thái Tổ hưng, quốc Đại Minh;
Hiệu Hồng Vũ, đô Kim Lăng.
Đãi Thành Tổ, thiên Yên Kinh;
Thập thất thế, chí Sùng Trinh.
Quyền yêm tứ, khấu như lâm;
Chí Lý Sấm, thần khí phần.
Thanh Thái Tổ, ưng cảnh mệnh
Tĩnh tứ phương, khắc đại định.

--------------------

TẠM DỊCH

Thái Tổ khởi lên, đặt nước Đại Minh;
Hiệu Hồng Vũ đóng đô ở Kim Lăng.
Kịp đến Thành Tổ đời đô đến Yên Kinh
Mười bảy đời, đến vua Sùng Trinh
Thái giám lộng quyền, giặc nổi lên như rừng
Đến Lý Sấm đồ thị bị đốt.
Thanh Thái Tổ nhận mệnh trời,
Dẹp bốn phương, mang lại sự ổn định lớn.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Vua Thái tổ khởi lên, đặt hiệu nước là Đại Minh lấy niên hiệu là Hồng Vũ đóng đô ở đất Kim Lăng. Tới vua Thành tổ thì dời kinh đô tới đất Yên gọi là Yên Kinh. Nhà Đại Minh có mười 17 đời vua, đến vua Sùng Trinh.

Quan thị lộng quyền nên giặc giả nổi lên như rừng, đến giặc Lý Sấm đồ thần bị đốt. Ứng mạng trời, vua Thái Tổ nhà Thanh dẹp yên bốn phương, định được tất cả.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 33 Bài 34


VIÊM TỐNG HƯNG
LỴ TRUNG QUỐC

======================

KINH VĂN

炎宋興,受周禪;

十八傳,南北混。

遼與金,皆稱帝;

元滅金,絕宋世。

蒞中國,蒹戎狄;

九十年,國祚廢。

--------------------

PHIÊN ÂM

Viêm Tống hưng, thụ Chu thiện;
Thập bát truyền, nam bắc hỗn.
Liêu dữ Kim, giai xưng đế;
Nguyên diệt Kim, tuyệt Tống thế.
Lị Trung Quốc, kiêm nhung địch;
Cửu thập niên, quốc tộ phế.

--------------------

TẠM DỊCH

Viêm Tống khởi lên, nhà Chu chịu nhường ngôi
Truyền mười tám đời, Nam Bắc hỗn loạn
Liêu và Kim đều xưng đế
Nhà Nguyên diệt nhà Kim, dứt nhà Tống.
Trị Trung Quốc gồm cả giặc Nhung
Chín mươi năm ngôi nước bị bỏ.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Nhà Viêm Tống khởi lên, nhà Châu chịu trao ngôi, truyền mười tám đời, phía Nam và phía Bắc chung lộn. Nước Liêu và nước Kim đều xưng đế. Nhà Nguyên diệt nước Kim, dứt đời nhà Tống. Nhà Nguyên trị nước Trung Quốc gồm cả các nước rợ ngoài, được chín chục năm, ngôi nước bị bỏ.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 32


NHỊ THẬP TRUYỀN
LƯƠNG DIỆT CHI

======================

KINH VĂN


二十傳,三百載;

樑滅之,國乃改。

樑唐晉,及漢周;

稱五代,皆有由。

--------------------

PHIÊN ÂM

Nhị thập truyền, tam bách tải;
Lương diệt chi, quốc nãi cải.
Lương Đường Tấn, cập Hán Chu;
Xưng Ngũ Đại, giai hữu do.

--------------------

TẠM DỊCH

Truyền hai mươi đời trải qua ba trăm năm
Nhà Lương tiêu diệt, nước bèn đổi
Lương, Đường, Tấn và Hán, Chu
Gọi là Ngũ Đại đều có nguyên do.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Nhà Lương diệt nhà Đường hiệu nước bèn đổi. Nhà hậu Lương, nhà hậu Đường, nhà hậu Tấn, tới nhà hậu Hán và nhà hậu Chu, kêu là thời Ngũ Đại, đều có duyên cớ.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 31 Bài 32


ĐÃI CHÍ TÙY
NHỊ THẬP TRUYỀN

======================

KINH VĂN

不再傳,失統緒。

唐高祖,起義師;

除隋亂,創國基。

二十傳,三百載;

--------------------

PHIÊN ÂM

Đãi chí Tùy, nhất thổ vũ;
Bất tái truyền, thất thống tự.
Đường Cao Tổ, khởi nghĩa sư;
Trừ Tùy loạn, sáng quốc cơ.
Nhị thập truyền, tam bách tải;

--------------------

TẠM DỊCH

Kịp đến nhà Tùy cõi đất thâu về một mối
Chưa truyền ngôi thì đã mất giềng mối.
Đường Cao Tổ đứng lên khởi nghĩa
Trừ loạn nhà Tùy, sáng lập cơ nghiệp đất nước.
Truyền hai mươi đời trải qua ba trăm năm

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Kịp tới nhà Tùy, Văn Đế gồm một cõi đất nhưng truyền chẳng được hai đời thì mất giềng mối.Vua Cao tổ nhà Đường khởi quân nghĩa, trừ loạn nhà Tùy dựng nền nước. Truyền hai mươi đời, cai trị ba trăm năm

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 30


TỐNG TỀ KẾ

======================

KINH VĂN

宋齊繼,樑陳承;

為南朝,都金陵。

北元魏,分東西;

宇文周,與高齊。

--------------------

PHIÊN ÂM

Tống Tề kế, Lương Trần thừa;
Vi Nam Triều, đô Kim Lăng.
Bắc Nguyên Ngụy, phân đông tây;
Vũ Văn Chu, dữ Cao Tề.

--------------------

TẠM DỊCH

Tống, Tề kế tiếp; Lương, Trần nối theo
Là Nam Triều, kinh đô ở Kim Lăng.
Phía Bắc là Nguyên Ngụy, chia Đông, Tây
Còn có Vũ Văn Chu và Cao Tề

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Nhà Tống dứt, kế đến là nhà Tề, nhà Lương hết, tới nhà Trần. Đó là Nam Triều, đóng đô tại đất Kim Lăng. Còn ở Bắc Triều thì nhà Nguyên Ngụy chia ra phía Đông phía Tây, nhà Chu họ Vũ Văn và nhà Tề họ Cao.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 29


QUANG VÕ HƯNGNGỤY THỤC NGÔ

Quang Vũ hưng, vi Đông Hán;
Tứ bách niên, chung ư Hiến.

Quang Vũ dấy lên là Đông Hán
Bốn trăn năm, kết thúc ở vua Hiến

======================

KINH VĂN

魏蜀吳,爭漢鼎;

號三國,迄兩晉。

--------------------

PHIÊN ÂM

Ngụy Thục Ngô, tranh Hán đỉnh;
Hiệu Tam Quốc, hất Lưỡng Tấn.

--------------------

TẠM DỊCH

Ngụy, Thục, Ngô tranh ngôi nhà Hán
Gọi là thời Tam Quốc, đến thời Lưỡng Tấn

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Nước Thục, nước Ngụy, nước Ngô giành vạc nhà Hán gọi là thời Tam Quốc. Sau tới thời lưỡng Tấn là hai nhà Tây Tấn và Đông Tấn liên tiếp nhau.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 28


DOANH TẦN THỊ

======================

KINH VĂN

嬴秦氏,始兼并;

傳二世,楚漢爭。

高祖興,漢業建;

至孝平,王莾篡。

光武興,為東漢;

四百年,終於獻。

--------------------

PHIÊN ÂM

Doanh Tần thị, thủy kiêm tịnh;
Truyền nhị thế, Sở Hán tranh.
Cao Tổ hưng, Hán nghiệp kiến;
Chí Hiếu Bình, Vương Mãng soán.
Quang Vũ hưng, vi Đông Hán;
Tứ bách niên, chung ư Hiến.

--------------------

TẠM DỊCH

Họ Doanh Tần mới gồm thâu
Truyền hai đời rối tới chiến tranh Hán Sở
Cao tổ dấy lên dựng nghiệp nhà Hán
Đến Hiếu Bình thỉ bị Vương Mãng cướp ngôi.
Quang Vũ dấy lên là Đông Hán
Bốn trăn năm, kết thúc ở vua Hiến

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Họ Doanh Tần mới bắt đầu thâu tóm tất cả, truyền được hai đời. Nước Sở, nước Hán giành nhau thiên hạ gọi là Hán Sở tranh hùng. Vua Cao Tổ Lưu Bang khởi lên, dựng nghiệp nhà Hán, đến vua Hiếu Bình thì bị Vương Mãng cướp ngôi.

Vua Quang Vũ khởi lên diệt Vương Mãng lập nhà Đông Hán, truyền được bốn trăm năm cho tới vua Hiến là vua cuối cùng.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 27


CHÂU TRIỆT ĐÔNG

======================

KINH VĂN

周轍東,王綱墜;

逞干戈,尚游說。

始春秋,終戰國;

五霸強,七雄出。

--------------------

PHIÊN ÂM

Chu triệt đông, vương cương trụy;
Sính can qua, thượng du thuyết.
Thủy Xuân Thu, chung Chiến Quốc;
Ngũ Bá cường, Thất Hùng xuất.

--------------------

TẠM DỊCH

Nhà Chu chuyển qua Đông, kỹ cương nhà vua suy đỗ
Chiến tranh nổ ra, du thuyết được chuộng
Trước Xuân Thu, sau Chiến Quốc
Năm nước cường thịnh xưng bá, bảy nước hùng mạnh xuất hiện.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Vết xe nhà Chu lần qua phía Đông bắt đầu thời Đông Chu, nghiệp vương trở nên bệ rạc. Giặc giả bắt đầy nổi dậy, thuật du thuyết được các vua chư hầu ưa chuộng. Bắt đầu là thời Xuân thu có năm nước cường thịnh gọi là Ngũ Bá, sau tới thời Chiến Quốc xuất hiện bảy nước hùng mạnh gọi là Thất Hùng.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 25 Bài 26


HẠ HỮU VŨTHANG PHẠT HẠ

======================

KINH VĂN

夏有禹,商有湯;

周文武,稱三王。

夏傳子,家天下;

四百載,遷夏社。

湯伐夏,國號商;

六百載,至紂亡。

周武王,始誅紂;

八百載,最長久。

--------------------

PHIÊN ÂM

Hạ Hữu Vũ, Thương hữu Thang,
Chu Văn Vũ, xưng tam vương.
Hạ truyền tử, gia thiên hạ;
Tứ bách tải, thiên hạ xã.
Thang phạt Hạ, quốc hiệu Thương;
Lục bách tái, chí Trụ vong.
Chu Vũ Vương, thủy tru Trụ;
Bát bách tái, tối trường cửu.

--------------------

TẠM DỊCH

Nhà Hạ có Vũ, nhà Thương có Thang
Văn – Vũ nhà Chu, xưng là tam vương.
Nhà Hạ truyền ngôi cho con, xem thiên hạ là nhà
Trải qua bốn trăm năm nắm thiên hạ và xã tắc.
Thang đánh dẹp Hạ mới đặt quốc hiệu là Thương
Trải qua sáu trăm năm, trới Trụ thì hết.
Chu Vũ Vương mới giết Trụ
Trải qua tám trăm năm là triều đại lâu dài nhất.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

Vua Vũ nhà Hạ, vua Thang nhà Thương, vua Văn và vua Võ nhà Chu, xưng là Tam Vương. Nhà Hạ truyền cho con, lấy thiên hạ làm nhà, sau bốn trăm năm, nền xã hội nhà Hạ mới dời đổi.
Vua Thang đánh dẹp nhà Hạ đặt hiệu nước là Thương, nhà Thương cai trị sáu trăm năm, đến vua Trụ thì dứt. Vua Võ Vương nhà Chu mới kể tội và giết vua Trụ, lập ra nhà Chu trị vì tám trăm năm là triều đại lâu dài nhất.

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN


------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 24


TỰ HY NÔNG

======================

KINH VĂN

自羲農,至黃帝;

號三皇,居上世。

唐有虞,號二帝;

相揖遜,稱盛世。

--------------------

PHIÊN ÂM

Tự Hy Nông, chí Hoàng Đế;
Hiệu Tam Hoàng, cư thượng thế.
Đường Hữu Ngu, hiệu nhị đế;
Tương ấp tốn, xưng thịnh thế.

--------------------

TẠM DỊCH

Từ Hy, Nông đến Hoàng Đế
Gọi là Tam Hoàng, ở thời thượng cổ
Đường, Hữu Ngu gọi là Nhị đế.
Nhượng ngôi cho nhau, xưng là thời thịnh vượng.

--------------------

TỪ VỰNG

--------------------

DỊCH NGHĨA

--------------------

THẢO LUẬN

--------------------

CÂU CHUYỆN

------------------

NHẬN THỨC

======================

Bài 23


NGŨ TỬ GIẢ

======================

KINH VĂN

五(wǔ) 子(zǐ) 者(zhě),有(yǒu) 荀(xún) 揚(yáng),

文(wén) 中(zhōng) 子(zǐ),及(jí) 老(lǎo) 莊(zhuāng)。

經(jīng) 子(zǐ) 通(tōng),讀(dú) 諸(zhū) 史(shǐ),

考(kǎo) 世(shì) 系(xì),知(zhī) 終(zhōng) 始(shǐ)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Ngũ tử giả, hữu Tuân Dương
Văn Trung Tử, cập Lão Trang
Kinh Tử thông, độc chư sử
Khảo thế hệ, tri chung thủy

--------------------

TẠM DỊCH

Năm Tử gồm có: Tuân Tử, Dương Tử
Văn Trung Tử, Lão Tử, Trang Tử
Thông Kinh Tử thì đọc sang các sách Sử
Xét qua các thế hệ để biết đầu đuôi

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Tử (子):cách gọi bày tỏ lòng tôn kính đối với người khác.
(2) Tuân (荀):Tuân Tử, người nước Triệu thời Chiến quốc, tác giả cuốn Tuân Tử.
(3) Dương (揚):Dương Tử, người thời Tây Hán. Là tác giả 2 cuốn sách Thái Huyền Kinh và Pháp Ngôn.
(4) Văn Trung Tử (文中子):tức Vương Thông, người thời nhà Tùy. Tác giả 2 cuốn Nguyên Kinh và Trung Thuyết.
(5) Lão (老):Lão Tử, người sáng lập ra Đạo gia, tác giả cuốn Đạo Đức Kinh.
(6) Trang (莊):Trang Tử, hay Trang Chu, người thời Chiến quốc, tác giả cuốn Trang Tử.
(7) kinh (經):kinh thư, là bộ đầu tiên trong bốn bộ Kinh, Sử, Tử, Tập trong phân loại của sách thời Trung Quốc cổ đại.
(8) tử (子):Tử thư, bộ thứ 3 trong bốn bộ Kinh, Sử, Tử, Tập trong phân loại của sách thời Trung Quốc cổ đại.
(9) thông (通):hiểu rõ
(10) độc (讀):nghiên cứu
(11) chư (諸):nhiều, các
(12) sử (史):chỉ sách về lịch sử
(13) khảo (考):khảo chứng
(4) thế hệ 世系:đế vương và quý tộc đời nọ nối đời kia.
(15) tri (知):biết, hiểu rõ
(16) chung (终):suy vong
(17) thủy (始):hưng khởi, bắt đầu

--------------------

DỊCH NGHĨA

Trung Quốc cổ đại có năm cuốn sách rất nổi tiếng và quan trọng, đó là Tuân Tử – của tác giả Tuân Tử, Pháp Ngô của tác giả Dương Tử, Trung Thuyết của tác giả Văn Trung Tử, cuốn Lão Tử của Lão Tử và cuốn Trang Tử của Trang Tử.

Người đi học, nếu như đã hiểu được kinh thư và tử thư, thì có thể bắt đầu nghiên cứu các loại sách sử, từ đó hiểu lịch sử và đạo lý thịnh suy của các triều đại.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Thử đoán xem vì sao người thời xưa phải học những sách như Tuân Tử, Pháp Ngôn, Trung Thuyết, Trang Tử? Nếu như phải giới thiệu cho người khác đọc một số sách thì tiêu chuẩn để bạn giới thiệu sách là như thế nào? Tại sao?

(Đáp án tham khảo: Những sách đó đại biểu cho tư tưởng lý luận, sự tìm tòi học hỏi cũng đối nhân xử thế của tác giả, có thể là tấm gương cho người học noi theo. Giáo viên có thể đưa ra một vài ví dụ, đồng thời dẫn dắt học sinh bồi dưỡng thói quen đọc các sách hay.)

(2) Bạn biết Trung Quốc có bao nhiêu triều đại? Hãy giới thiệu với các bạn trong lớp về triều đại mà bạn quen thuộc nhất?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Câu chuyện về Lão Tử”

Lão Tử họ Lý, tên Trọng Nhĩ, tự Bá Dương, người nước Sở thời Xuân Thu. Là người sáng lập ra Đạo gia. Chuyện Lão Tử chào đời có rất nhiều truyền thuyết: có truyền thuyết rằng mẹ ông đã nhìn thấy ngôi sao lớn bay trên bầu trời nên mới mang thai rồi sinh ra ông; cũng có truyền thuyết nói rằng mẹ Lão Tử đã ăn hai quả mận dính vào nhau sau đó mang thai 72 năm, khi rạch nách trái ra thì sinh được Lão Tử. Ông vừa mới chào đời thì đầu tóc bạc phơ, do đó mới gọi ông là Lão Tử. Còn có truyền thuyết, từ thời Chu Văn Vương, Lão Tử làm Thủ tàng sử (tên một chức quan quản lý kho), đến thời Vũ Vương, ông vẫn nhậm chức Chủ hạ sử (tương đương với chức ngụ sử thời Tần Hán), người ta thấy ông sống lâu như vậy nên gọi ông là Lão Tử.

Lão Tử là người luôn giữ được tâm thái thanh tịnh không có truy cầu, do đó dù ông làm quan dưới triều nhà Chu đã lâu, nhưng chức vị vẫn không có gì thay đổi, trước sau không tranh thiệt hơn. Phép thuật ông dùng để cứu giúp người đời có chín loại đan, tám loại đá, và các loại thuốc tiên như Kim tửu, Kim dịch.

Về sao Lão Tử sắp xuất quan về tây, ông định đi lên núi Côn Luân. Lệnh doãn trấn quan là Doãn Hỷ đã bói được sẽ có Thần nhân đi qua nơi này, nên bèn sai người quét dọn 40 dặm đường để nghênh đón, quả nhiên Lão Tử đã tới. Lão Tử cũng biết được mệnh của Doãn Hỷ đã định là sẽ đắc Đạo, nên ông nán lại chỗ Doãn Hỷ.

Lão Tử có một người hầu tên Từ Giáp, từ lúc còn trẻ đã được Lão Tử thuê, mỗi ngày Lão Tử trả ông 100 quan tiền, tổng cộng là 7 triệu 2 trăm nghìn tiền công. Từ Giáp thấy Lão Tử đi xa, nên lo lắng và muốn đòi tiền công nhưng lại sợ đòi không được, thế là Từ Giáp bèn nhờ người viết một tờ cáo trạng đem đến Doãn Hỷ để kiện. Người thay Từ Giáp viết tờ cáo trạng lại không biết Từ Giáp đã theo Lão Tử hơn 200 năm, chỉ biết nếu đòi được tiền từ Lão Tử thì Từ Giáp sẽ trở thành đại phú ông, nên mới đồng ý đem con gái gả cho Từ Giáp.

Doãn Hỷ kinh ngạc khi đọc xong cáo trạng, bèn đi nói với Lão Tử. Lão Tử nói với Từ Giáp: Mạng ngươi sớm đã hết rồi. Năm xưa vì ta quan nhỏ tiền ít, ngay cả người quét dọn cũng không có, nên mới thuê ngươi, đồng thời cũng cho ngươi lá bùa Thái huyền chân, để ngươi sống đến ngày hôm nay. Cớ sao ngươi lại đi kiện ta chứ? Năm xưa ta đồng ý với ngươi, nếu tương lai ngươi đến An Tức quốc, ta sẽ sẽ dùng vàng để trả toàn bộ tiền công cho ngươi. Ngươi hà tất phải lo lắng chứ? Vừa nói dứt lời, ông bèn làm cho Từ Giáp mở miệng và nhả ra lá bùa Thái huyền chân, Từ Giáp lập tức biến thành đống xương khô.

Doãn Hỷ biết Lão Tử là Thần nhân nên quỳ xuống cúi lạy thỉnh cầu Lão Tử, mong muốn trả nợ thay Lão Tử. Lão Tử bèn vứt là bùa về phía Từ Giáp, Từ Giáp lập tức sống lại. Doãn Hỷ thay Lão Tử trả cho Từ Giáp hai triệu quan tiền. Sau đó, Doãn Hỷ cung kính hành lễ bái Lão Tử làm sư phụ, Lão Tử đem đạo trường sinh truyền thụ cho Doãn Hỷ, đồng thời khẩu thuật lại 5000 từ rồi cưỡi trâu xanh bay đi.

Doãn Hỷ nhanh chóng ghi lại những lời của Lão Tử, đây chính là cuốn sách nổi tiếng Đạo Đức Kinh.

Về sau, Doãn Hỷ chiểu theo những gì Lão Tử dạy, quả nhiên đã tu thành Tiên.

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 22


TAM TRUYỆN GIẢ

======================

KINH VĂN

三(sān) 傳(zhuàn) 者(zhě),有(yǒu) 公(gōng) 羊(yáng),

有(yǒu) 左(zuǒ) 氏(shì),有(yǒu) 谷(gǔ) 梁(liáng)。

經(jīng) 既(jì) 明(míng),方(fāng) 讀(dú) 子(zǐ),

撮(cuò) 其(qí) 要(yào),記(jì) 其(qí) 事(shì)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Tam Truyện giả, hữu Công Dương,
Hữu Tả Thị, hữu Cốc Lương.
Kinh ký minh, phương độc tử;
Toát kì yếu, kí kì sự.

--------------------

TẠM DỊCH

Ba truyện: có Công Dương,
Có Tả Thị, có Cốc Lương.
Kinh đã rõ rồi nên đọc sang bách gia chư tử
Rút ra điều cốt yếu, ghi nhớ những sự việc.

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Tam truyện (三傳):tên gọi chung của “Xuân Thu tam truyện”, gồm có Tả truyện, Công Dương truyện, Cốc Lương truyện, được gọi tắt là Tam truyện. Đây là cuốn sách chú giải cuốn Xuân Thu của Khổng Tử.
(2) Công Dương (公羊):gọi tắt của Công Dương truyện. Đây là cuốn sách do Công Dương Cao thời Chiến quốc viết, đến thời Hán Cảnh Đế do Công Dương Thọ và Hồ Mưu Sinh viết lại và định bản. Sách này dùng hình thức vấn đáp để giải thích phần Vi ngôn đại nghĩa trong cuốn sách Xuân Thu.
(3) Tả thị (左氏):chỉ Tả truyện, còn gọi là Tả truyện Xuân Thu do Lỗ thái sử Tả Khâu Minh thời Xuân Thu viết. Sách này dùng hình thức tự sự, chú trọng dùng sự việc trong lịch sử để chứng minh sự đúng đắn của cuốn Xuân Thu.
(4) Cốc Lương (谷梁):chỉ Cốc Lương truyện do Cốc Lương Xích thời Chiến quốc viết
(5) kinh (經):trong bài chỉ sách của Nho gia, trong mục lục của các sách vở cổ đại phân loại thành bốn bộ Kinh, Sử, Tử, Tập.
(6) ký (既):đã
(7) phương (方):mới, bắt đầu
(8) Tử (子):Trong bài chỉ sách của Bách gia chư tử. Sách thời cổ đại phân thành bốn bộ Kinh, Sử, Tử, Tập.
(9) toát (撮):trích lục, rút ra những điều cốt yếu
(10) kỳ (其):chỉ các sách của Bách gia chư tử
(11) yếu (要):trọng điểm, điểm chính
(12) ký (記):ghi nhớ

--------------------

DỊCH NGHĨA

Tam truyện hay Xuân thu tam truyện là tên gọi chung của bộ sách giải thích cuốn Xuân Thu, gồm có 3 phần “Công Dương truyện” của tác giả Công Dương Cao thời Tam Quốc, “Tả truyện” của tác giả Tả Khâu Minh người nước Lỗ thời Xuân Thu và “Cốc Lương truyện” của tác giả Cốc Lương Xích thời Chiến quốc.

Sau khi thông hiểu các sách của Nho gia như Tứ thư, Lục kinh, thì mới bắt đầu học tới sách của Bách gia chư tử, đồng thời chắt lọc những tinh hoa và trọng điểm trong các sách kinh điển của các gia, ghi nhớ các việc cụ thể trong đó.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Người xưa đọc những sách “cần phải đọc” như các sách của Nho gia, của Bách gia chư tử, thì mới có thể hiểu được làm người cũng như đối nhân xử thế như thế nào. Ngày nay nhiều người chỉ đọc những sách mà họ thích đọc, như tranh châm biếm, tạp chí, tiểu thuyết, v.v. Người hiện đại đọc sách theo sở thích, sẽ dẫn đến vấn đề gì? Việc đọc những sách “cần phải đọc” của người xưa có lợi ích như thế nào?

(2) Cuốn sách nào để lại cho bạn ấn tượng sâu sắc nhất? Thử nghĩ xem: điểm nào của cuốn sách đó làm cảm động lòng người nhất? Tại sao?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Vi biên tam tuyệt”

Câu chuyện này có liên quan đến Khổng Tử. Vào những năm cuối đời, Khổng Tử thích nghiên cứu Chu Dịch.

Bởi vì thời kỳ Xuân Thu vẫn chưa có giấy, vì thế chữ được viết lên từng chiếc thẻ tre. Một bộ sách sẽ có rất nhiều thẻ tre nên cần dùng dây làm bằng da trâu (hoặc động vật khác) để buộc các thẻ tre lại thì mới đọc được. Bình thường các sách bằng thẻ tre được cuộn lại để cất đi, khi đọc thì mới mở ra. Văn tự của Chu Dịch khó hiểu, nội dung lại không rõ ràng, do đó Khổng Tử mới dở đi dở lại để đọc nhiều lần. Cứ như thế, ông đã làm cho dây da bò bị đứt nhiều lần.

Dù đọc đến mức độ như vậy, nhưng Khổng Tử vẫn chưa hài lòng, ông nói: “Nếu như ta có thể sống thêm vài năm, thì có thể hiểu được thêm nhiều hơn nội dung và chữ viết của Chu Dịch”.

Thành ngữ “Vi biên tam tuyệt” dùng để chỉ người chăm chỉ học hành.


CÂU CHUYỆN
"Bán bộ Luận Ngữ trị thiên hạ''

Triệu Phổ, ban đầu là quan cấp dưới của Triệu Khuông Dẫn. Năm 960, Triệu Khuông Dẫn đưa quân lên phía bắc, khi quân đến Trần Kiều, Triệu Phổ đã đưa ra kế sách giúp Triệu Khuông Dẫn phát động binh biến ở Trần Kiều. Triệu Khuông Dẫn làm hoàng đế, kiến lập triều Tống, sử gọi là Tống Thái Tổ. Sau đó, Triệu Phổ lại phò tá Tống Thái Tổ thống nhất đất nước, và ông được phong làm Tể tướng. Sau khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn qua đời, em trai của ông là Triệu Khuông Nghĩa lên kế vị, sử gọi là Tống Thái Tông.

Dưới thời Tống Thái Tông, Triệu Phổ vẫn làm Tể tướng. Có người tâu với Tống Thái Tông rằng Triệu Phổ học thức nông cạn, sách mà ông ta đọc chỉ có một bộ Luận Ngữ của Nho gia, mà lại để ông ta làm Tể tướng là không thích hợp.

Có một lần, Tống Thái Tông hỏi Triệu Phổ: “Có người nói khanh chỉ đọc có một bộ Luận Ngữ, có đúng vậy không?”

Triệu Phổ thật thà trả lời: “Những gì thần biết, quả thật không vượt khỏi cuốn Luận Ngữ. Năm xưa thần dùng nửa bộ Luận Ngữ để phò trợ Thái tổ bình định thiên hạ, giờ đây thần dùng nửa bộ Luận Ngữ để phò trợ bệ hạ, giúp thiên hạ thái bình”.

Về sau Triệu Phổ qua đời vì bệnh, người nhà mở hòm sách của ông ra, bên trong quả thật chỉ có cuốn Luận Ngữ.

“Bán bộ Luận Ngữ” dùng để nhấn mạnh sự tinh thâm của tư tưởng Nho gia.

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 21


VIẾT QUỐC PHONG

======================

KINH VĂN

曰(yuē) 國(guó) 風(fēng),曰(yuē) 雅(yǎ) 頌(sòng),

號(hào) 四(sì) 詩(shī),當(dāng) 諷(fèng) 詠(yǒng)。

詩(shī) 既(jì) 亡(wáng),春(chūn) 秋(qiū) 作(zuò),

寓(yù) 褒(bāo) 貶(biǎn),别(bié) 善(shàn) 恶(è)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Viết quốc phong, viết nhã tụng
Hiệu tứ thi, đương phúng vịnh.
Thi ký vong, Xuân Thu tác
Ngụ bao biếm, biệt thiện ác.

--------------------

TẠM DỊCH

Rằng Quốc Phong, rằng Nhã Tụng
Gọi là bốn thể thơ, để ngâm đọc
Kinh thi đã mất, thay vào đó là kinh Xuân Thu
Ngụ ý khen chê, phân biệt thiện ác

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Quốc phong (國風):một trong bốn thể thơ của Kinh Thi. Chỉ những bài ca dao dân gian của các nước chư hầu thời nhà Chu. Tổng cộng có 160 bài, chia làm 15 nước. Đại khái là chỉ các bài dân ca từ thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu.
(2) Nhã (雅):một thể thơ của Kinh Thi, được chia thành Đại nhã và Tiểu nhã. Đại nhã là các bài thơ ca các chư hầu dùng khi yết kiến Thiên tử. Tiểu nhã là các bài thơ ca mà Thiên tử dùng trong các yến tiệc đãi khách
(3) Tụng (頌):một thể thơ của Kinh Thi, là các bài thơ dùng trong lễ bái, được phân thành ba loại Chu tụng, Lỗ tụng, Thương tụng.
(4) hiệu (號):được gọi là
(5) Tứ thi (四詩):bốn thể thơ của Kinh Thi
(6) phúng vịnh (諷詠):đọc to ngâm nga
(7) ký (既):đã
(8) vong (亡):mất
(9) Xuân Thu (春秋):tên sách, đây là cuốn sách do Khổng Tử biên soạn căn cứ vào sách sử nước Lỗ, ghi chép lại lịch sử 242 năm từ thời Lỗ Ẩn Công năm thứ nhất (năm 722 TCN) đến thời Lỗ Ai Công năm thứ 14 (năm 481 TCN). Đây là văn bản lịch sử Trung Quốc sớm nhất còn lại và được ghi chép theo thể biên niên.
(10) tác (作):làm ra
(11) ngụ (寓):ẩn chứa
(12) bao (褒):tán dương
(13) biển (貶):phê bình
(14) biệt (别):phân biệt

--------------------

DỊCH NGHĨA

Kinh Thi có 4 thể thơ gồm: Quốc phong, Đại nhã, Tiểu nhã, Tụng được gọi là Tứ thi, do đó Kinh Thi thường phải đọc ngâm nga trầm bổng.

Sau khi nhà Chu suy bại, Kinh Thi dần dần bị quên lãng. Do đó Khổng Tử bèn căn cứ vào sử sách nước Lỗ để biên soạn cuốn Xuân Thu, bộ sách này chứa đựng những lời tán dương cũng như phê bình đối với chế độ chính trị khi đó, mong muốn người đương quyền có thể biết để cảnh giác, đồng thời cũng nhắc nhở người đời biết phân biệt rõ thiện ác.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Khổng Tử từng nói “Không học Thi, không có gì để nói”, bạn đã đọc qua thi ca bao giờ chưa? Bạn cảm thấy thế nào? Hãy chia sẻ cùng mọi người.

(2) Khổng Tử đã viết cuốn Xuân Thu trong thời loạn thế để khen chê xã hội đương thời. Bạn cho rằng trong tình hình hỗn loạn, nếu như có người bước ra phân rõ đúng sai phong thái chính trực, thì có phải là việc tốt hay không? Khi người có chức quyền làm sai, bạn sẽ đối đãi cụ thể như thế nào?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Hỏi một biết ba”

Khi con trai Khổng Tử chào đời, vua nước Lỗ sai người đem một con cá chép đến tặng cho Khổng Tử, do đó Khổng Tử đặt tên con là Khổng Lý, tên chữ là Bá Ngư, ý là con cá mà Lỗ Bá tặng.

Có một lần, học trò của Khổng Tử là Trần Kháng hỏi Bá Ngư: “Cha ngài có truyền thụ điều gì đặc biệt cho ngài hay không?” Bá Ngư nói: “Không có. Một lần cha đứng một mình ở sân, ta nhanh chân chạy qua. Cha hỏi ta: ‘Con học Kinh Thi chưa?’ Ta nói: ‘Dạ chưa’. Cha ta nói: ‘Không học Kinh Thi, thì không thể nắm chắc được kỹ năng nói chuyện’. Thế là ta bắt đầu học Kinh Thi. Một lần nữa, cha lại hỏi ta: ‘Con học Lễ Ký chưa?’ Ta nói: ‘Dạ chưa’. Cha ta nói: ‘Không học lễ, thì không thể có chỗ đứng trong xã hội’. Thế là ta bắt đầu học Lễ Ký, ta chỉ có nghe cha bảo 2 lần này thôi”.

Trần Kháng trở về vui mừng nói: “Hôm nay ta hỏi một mà lại thu hoạch được ba: biết được tác dụng của Kinh Thi, biết được tác dụng của Lễ Ký, cũng biết được người quân tử không thiên vị con trai của chính mình”.

Hỏi một được ba, hỏi ít mà có được câu trả lời nhiều, ngụ ý cầu ít mà được nhiều.

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 20


NGÃ CƠ CÔNG

======================

KINH VĂN

我(wǒ) 周(zhōu) 公(gōng),作(zuò) 周(zhōu) 禮(lǐ),

著(zhù) 六(liù) 官(guān),存(cún) 治(zhì) 體(tǐ)。

大(dà) 小(xiǎo) 戴(dài),注(zhù) 禮(lǐ) 記(jì),

述(shù) 聖(shèng) 言(yán),禮(lǐ) 樂(yuè) 備(bèi)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Ngã chu công,
Tác chu lễ,
Trứ lục quan,
Tồn trì thể.
Đại tiểu đới,
Chú lễ ký,
Thuật thánh ngôn,
Lễ nhạc bị.

--------------------

TẠM DỊCH

Chu Công soạn ra Chu Lễ,
Đặt ra sáu loại quan giữ gìn chính thể.
Đại Đới tiểu Đới chú thích Lễ Ký,
Thuật lời thánh nhân, đầy đủ lễ nhạc.

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Chu công (周公):họ Cơ, tên Đán, cũng gọi là Thúc Đán, là con trai thứ tư của Chu Văn Vương. Bởi vì ông được phong đất tại nước Chu nên được gọi là Chu Công hay Chu Công Đán.
(2) Chu Lễ (周體):tên sách do Chu Công viết. Ghi chép lại chế độ quan chức thời cổ đại. Còn được gọi với tên Chu Quan.
(3) trứ (著):sáng tác, viết
(4) lục quan (六官):sáu chức quan thời nhà Chu. gồm có: Thiên quan mông tể, Địa quan tư đồ, Xuân quan tông bách, Hạ quan tư mã, Thư quan tư khấu, Đông quan tư không.
(5) tồn (存):tồn tại
(6) trị thể (治體):thể chế quản lý đất nước
(7) đại tiểu Đới (大小戴):chỉ học giả Đới Đức và Đới Thánh thời Tây Hán. Hai người là chú cháu với nhau nên còn được gọi là Đại Đới và Tiểu Đới.
(8) chú (注):chú giải
(9) Lễ Ký (禮記):một trong những sách kinh điển của Nho gia. Trước thời Tây Hán, Lễ Ký có tổng cộng 131 thiên. Tương truyền Đới Đức tuyển chọn 85 thiên trong đó nên gọi là Đại Đới Lễ Ký. Đới Thánh tuyển chọn 49 thiên nên gọi là Tiểu Đới Lễ Ký. Cuốn Đại Đới Lễ Ký về sau đã bị thất truyền, Tiểu Đới Lễ Ký được Trịnh Huyền chú giải và được lưu truyền tới ngày nay, chính là Lễ Ký ngày nay. Nội dung của Lễ Ký rất phong phú, chủ yếu ghi lại và phân tích lễ chế, lễ ý thời tiên Tần, giải thích nghi lễ, ghi lại các câu hỏi đáp giữa Khổng Tử và học trò, ngoài ra còn ghi chép lại các chuẩn tắc tu thân làm người.
(10) thuật (述):kể lại
(11) thánh ngôn (聖言):những lời bàn của thánh hiền
(12) lễ nhạc (禮樂):các loại lễ nghi và chế độ lễ nghi kết hợp âm nhạc
(13) bị (備):đầy đủ, hoàn mỹ

--------------------

DỊCH NGHĨA

Chu Công soạn sách Chu Lễ để ghi lại sáu loại chế độ quan chức của triều đại nhà Chu, bảo tồn thể chế trị quốc.

Học giả Đới Đức và Đới Thánh thời Tây Hán đã chỉnh lý và chú thích cuốn Lễ Ký, trong đó trình bày tương đối hoàn chỉnh và đầy đủ những lời bàn luận của các bậc thánh hiền, và các loại chế độ nghi thức liên quan đến lễ nhạc.
--------------------

THẢO LUẬN

(1) Chu Công soạn ra 6 loại chế độ quan chức, là muốn vua tôi trên dưới đều cần tuân thủ nghiêm chức trách thân phận của mình, không được có những hành vi vượt quá lễ chế. Bạn cho rằng giữ vững chức trách của mình có quan trọng không? Nếu các bạn học trong lớp hoặc cán bộ lớp không làm tròn bổn phận của mình, thì không khí lớp học sẽ như thế nào?

(2) Bạn có để ý tới các lễ tiết trong cuộc sống hàng ngày hay không? Ví như các phương diện ăn, mặc ở, đi lại, hôn nhân, tang lễ, v.v. Bạn cảm thấy những lễ tiết cơ bản nào không thể bỏ qua được?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Tăng Tử thay chiếu”

Tăng Tử lâm bệnh nặng nằm trên giường, học trò của ông là Nhạc Chính và Tử Xuân ngồi dưới, con trai Tăng Nguyên và Tăng Thân ngồi chỗ dưới chân giường. Có một đứa trẻ ngồi ở góc nhà cầm cây nến.

Đứa trẻ vô tình phát hiện Tăng Tử nằm trên tấm chiếu trúc hoa lệ và êm ái chỉ có quan lớn mới dùng. Nó liền thốt lên lời khen ngợi, Tử Xuân vội vã ngăn không cho nó nói tiếp. Tăng Tử nghe thấy vậy, kinh hoàng nói: “Gì vậy! Đúng rồi, đó là Quý Tôn đã tặng cho ta. Ta vẫn chưa trả lại, Nguyên hãy đỡ ta dậy thay chiếu khác đi”.

Tăng Nguyên nói: “Cha đang bệnh nặng, không nên di chuyển nhiều. Đợi đến khi trời sáng, con nhất định sẽ thay chiếu theo lời cha”. Tăng Tử nói: “Con yêu thương ta cũng không nên giống như đứa trẻ. Quân tử lấy đức phục người, tiểu nhân thì nhân nhượng nuông chiều để làm vui lòng người. Ta còn có gì để mong cầu nữa đây? Ta có thể đắc chính đạo mà chết là đủ lắm rồi”.

Thế là, họ bèn mau chóng thay chiếu cho Tăng Tử. Thay xong chiếu, Tăng Tử chưa nằm xuống thì đã qua đời. Đây chính là câu chuyện “Tăng Tử thay chiếu”.

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 19


HỮU LIÊN SƠN

======================

KINH VĂN

有(yǒu) 連(lián) 山(shān),有(yǒu) 歸(guī) 藏(cáng),

有(yǒu) 周(zhōu) 易(yì),三(sān) 易(yì) 詳(xiáng)。

有(yǒu) 典(diǎn) 謨(mó),有(yǒu) 訓(xùn) 誥(gào),

有(yǒu) 誓(shì) 命(mìng),書(shū) 之(zhī) 奥(ào)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Hữu liên sơn,
Hữu quy tàng,
Hữu chu dịch,
Tam dịch tường.
Hữu điển mô,
Hữu huấn cáo,
Hữu thệ mệnh,
Thư chi áo.

--------------------

TẠM DỊCH

Có Liên Sơn,
Có Quy Tàng
Có Chu Dịch
Nên hiểu kỹ ba kinh dịch này
Có Điển Mô
Có Huấn Cáo
Có Thệ Mệnh
Hàm nghĩa đều sâu xa.

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Liên Sơn (連山):tên sách, tương truyền là do Phục Hy viết, có truyền thuyết khác cho rằng đây là cuốn sách bói thời nhà Hạ. Sách này lấy quẻ Cấn đứng đầu, Cấn tượng trưng cho núi, cho nên được gọi là Liên Sơn. Sách này đã thất truyền.
(2) Quy Tàng (歸藏):tên sách, tương truyền là do Hoàng Đế viết, có truyền thuyết khác cho rằng đây là cuốn sách bói của triều Thương. Sách này lấy quẻ Khôn đứng đầu, Khôn tượng trưng cho đất, đất là nơi vạn vật trở về và trú ẩn, cho nên gọi là Quy Tàng. Hiện đã thất truyền.
(3) Châu Dịch (周易):tên sách, dịch có nghĩa là biến hóa, khởi nguồn của Châu Dịch là Hà Đồ và Lạc Thư. Châu Dịch (hay Chu Dịch) là do Châu Văn Vương suy diễn tiên thiên bát quái của Phục Hy thành hậu thiên bát quái.
(4) Tam Dịch (三易):chỉ ba cuốn Liên Sơn, Quy Tàng và Chu Dịch.
(5) Tường (詳):chi tiết, đầy đủ.
(6) Điền Mô (典谟):tên chương của cuốn Thượng Thư. Điển là bài viết ghi chép lại những sự tích của các đế vương, Mô là kể lại những lời bàn bạc kiến nghị của quần thần.
(7) Huấn Cáo (訓誥):tên chương của cuốn Thượng Thư. Huấn là chỉ những lời dạy bảo, Cáo là chỉ những lời khuyên răn, những lời khích lệ.
(8) Thệ mệnh (誓命):tên chương của cuốn Thượng Thư. Thệ là chỉ những lời tuyên thệ, Mệnh là chỉ những chiếu lệnh của quân vương.
(9) Thư (書):chỉ cuốn Thượng Thư.
(10) Áo (奥):ảo diệu tinh thâm

--------------------

DỊCH NGHĨA

Ba cuốn sách Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch được gọi là “Tam Dịch”. Chúng sử dụng hình thức các quẻ bói để thể hiện đạo lý biến hóa của mọi sự vật trong vũ trụ, đồng thời chỉ dạy con người làm thế nào để an thân và lập nghiệp.

Điển, Mô, Huấn, Cáo, Thệ, Mệnh được gọi chung là “Thượng Thư”, là các chương của Thư Kinh, nội dung bao hàm những đạo lý rất kỳ diệu và huyền bí.
--------------------

THẢO LUẬN

(1) Bạn có thích coi bói không? Tại sao?

(2) Bạn có tin mỗi người đều có số mệnh của mình không? Con người cần đối đãi như thế nào với “vận mệnh”?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Hai giấc mơ của tú tài”

Có một tú tài lần thứ ba lên kinh tham gia khoa cử, trước hôm thi hai ngày anh ta có hai giấc mơ. Giấc mơ thứ nhất là mơ thấy mình trồng rau cải trên tường; giấc mơ thứ hai là mơ thấy mình đang đội nón dưới trời mưa nhưng tay vẫn còn cầm ô để che.

Tú tài nghĩ hai giấc mơ này có lẽ còn có ý nghĩa sâu xa gì khác nữa, thế là anh ta liền nhanh chóng đi tìm thầy bói để giải giấc mơ. Thầy bói vừa nghe thấy, liên tiếp vỗ đùi nói: Anh hãy về nhà đi thôi. Anh nghĩ xem, trên tường cao mà đi trồng rau chẳng phải là phí công hay sao? Đầu đội nón rồi mà lại còn che ô chẳng phải là thừa hay sao?

Tú tài vừa nghe xong, trong lòng không còn hy vọng, quay lại quán trọ thu dọn đồ đạc chuẩn bị về nhà. Chủ quán trọ thấy vậy lấy làm lạ bèn hỏi: Ngày mai anh mới thi cơ mà, sao hôm nay đã về quê vậy?

Tú tài nói rõ đầu đuôi xong, chủ quán trọ lại vui mừng: Ta lại thấy khác, lần này anh nhất định phải ở lại để thi. Anh nghĩ xem, trên tường cao mà trồng rau chẳng phải là đỗ cao hay sao? Đầu đội nón tay che ô chẳng phải nói rõ rằng lo trước không sợ tai họa sao?

Tú tài nghe xong, cảm thấy rất có lý, thế là tinh thần phấn khởi tham gia kỳ thi, quả nhiên cậu đã đỗ thám hoa.

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 18


HIẾU KINH THÔNG

======================

KINH VĂN

孝(xiào) 經(jīng) 通(tōng),四(sì) 書(shū) 熟(shóu),

如(rú) 六(liù) 經(jīng),始(shǐ) 可(kě) 讀(dú)。

詩(shī) 書(shū) 易(yì),禮(lǐ) 春(chūn) 秋(qiū),

號(hào) 六(liù) 經(jīng),當(dāng) 講(jiǎng) 求(qiú)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Hiếu kinh thông
Tứ thư thục
Như Lục Kinh
Thủy khả độc
Thi thư dịch
Lễ xuân thu
Hiệu lục kinh
Đương giảng cầu

--------------------

TẠM DỊCH

Thông hiếu kinh
Thuộc tứ thư
Rồi đến lục kinh
Mới bắt đầu có thể đọc
Thi Thư Dịch Lễ Xuân Thu
Gọi là lục kinh
Nên tìm hiểu

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Hiếu Kinh (孝經):tên sách, là cuốn sách ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và Tăng Tử về đạo hiếu.
(2) Thông (通):hiểu rõ
(3) Thục (熟):thuộc
(4) Như (如):giống như
(5) Lục kinh (六經):chỉ sáu cuốn kinh thư, gồm có Thi, Thư, Dịch, Châu Lễ, Lễ Ký, Xuân Thu.
(6) Thủy (始):mới, bắt đầu
(7) Thi thư dịch (詩書易):chỉ ba cuốn Thi Kinh, Thượng Thư, Chu Dịch.
(8) Lễ xuân thu (禮春秋):chỉ cuốn sách Lễ Ký và Xuân Thu.
(9) Hiệu (號):xưng, gọi
(10) Giảng cầu (講求):tìm tòi nghiên cứu

--------------------

DỊCH NGHĨA

Người xưa khi đi học, đầu tiên là học thông Hiếu Kinh, sau đó đến bốn cuốn Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học, Trung Dung. Học thuộc hết tứ tư rồi mới bắt đầu học lục kinh.

Lục kinh là tên gọi của 6 cuốn Thi Kinh, Thượng Thư, Chu Dịch, Chu Lễ, Lễ Ký, Xuân Thu, đây là những sách kinh điển và quan trọng của Nho gia, chúng ta nên nghiên cứu và học tập những đạo lý trong đó.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Tứ thư, lục kinh là chỉ điều gì?

(2) Tứ thư và lục kinh là những sách của nhà Nho, tại sao nó lại quan trọng như vậy?

(3) Tại sao học các sách đó cần phải có thứ tự?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Đức hiếu cảm động trời cao”

Đây là câu chuyện cảm động về lòng hiếu thảo, được liệt vào Nhị thập tứ hiếu (24 câu chuyện về lòng hiếu thảo). Văn hóa truyền thống giảng “Bách thiện hiếu vi tiên” (trăm điều thiện, chữ hiếu đứng đầu), sự thành tâm hiếu thảo của Vương Tường đã đem lại phúc phận sau này cho ông. Điều này cũng nói lên quan niệm truyền thống “người làm việc thiện, tất có thừa phúc” và “thiện hữu thiện báo”.

Vương Tường là người ở vùng Lâm Nghi thuộc quận Lang Da thời nhà Tấn, tên chữ Hưu Chinh, là hậu nhân của Gián nghị đại phu Vương Cát thời nhà Hán.

Bản tính Vương Tường là người con có hiếu. Mẹ đẻ sớm qua đời khi ông còn nhỏ, người mẹ kế họ Chu tâm địa hẹp hòi ích kỷ, lại căm ghét Vương Tường nên thường dùng những việc nhỏ để mượn cớ đánh đập ông. Bà ta thường xuyên đặt điều hãm hại Vương Tường trước mặt cha ông, vì đó mà cha ông dần dần cũng không ưa ông nữa, bắt ông hàng ngày phải dọn sạch chuồng bò, làm các việc nặng nhọc. Tuy nhiên Vương Tường không chút oán trách, ngược lại ông lại càng hiếu thuận với cha mẹ.

Cha mẹ bị ốm, ông không dám lười nhác, sắc thuốc nhất định phải tự mình thử trước, cung kính hầu hạ cha mẹ. Một hôm mẹ kế muốn ăn cá chép tươi, khi đó trời lạnh tuyết rơi, nước sông đều đã đóng băng, Vương Tường vì nghĩ đến mẹ kế, không ngại trời lạnh, ông ra ngoài sông cởi quần áo để nằm xuống băng với hy vọng làm tan băng để bắt cá. Cuối cùng trời cao không phụ lòng người, lớp băng nứt ra, và hai con cá chép nhảy lên, Vương Tường vui mừng mang cá về nhà. Người trong thôn biết chuyện đều kinh ngạc, cho rằng đó là do lòng hiếu thảo của Vương Tường làm cảm động trời cao. Từ đó về sau câu chuyện về lòng hiếu thuận của Vương Tường được lưu truyền khắp nơi.

Những năm cuối thời Thục Hán, cha Vương Tường qua đời, gặp thời loạn lạc, Vương Tường chăm nom mẹ kế và em trai Vương Lãm, đồng thời dẫn họ đi ẩn cư tránh nạn ở Lư Giang. Ẩn cư 30 năm, châu quận muốn chiêu mộ ông ra làm quan, Vương Tường từ chối vì mẹ già em thơ. Đến khi mẹ kế qua đời, sau khi để tang mẹ xong, thứ sử Từ Châu là Lã Kiền ngưỡng mộ đức hiếu của ông, lần nữa mời ông ra làm thứ sử tá lại (chức quan phò tá thứ sử), nhưng ông vẫn từ chối không nhận lời. Em trai Vương Lãm bèn khuyên ông, đồng thời chuẩn bị đồ đạc cho ông, cuối cùng ông mới nhận lời. Khi đó trộm cướp hoành hành, Vương Tường dẫn binh đi dẹp yên trộm cướp, từ đó người dân Từ Châu có được cuộc sống an định, an cư lạc nghiệp.

Cuối cùng Vương Tường làm đến chức Thái Bảo, được phong làm Duy Lăng Công, thọ 85 tuổi. Vương Tường sinh được 5 người con trai, họ đều là những người sống thọ, làm quan hưởng vinh hoa, phúc lộc đầy nhà. Mọi người đều cho rằng đó là do đức hiếu nên mới được như vậy.

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 17


TÁC TRUNG DUNG

======================

KINH VĂN

作(zuò) 中(zhōng) 庸(yōng),子(zǐ) 思(sī) 筆(bǐ) ,

中(zhōng) 不(bù) 偏(piān),庸(yōng) 不(bú) 易(yì)。

作(zuò) 大(dà) 學(xué),乃(nǎi) 曾(zēng) 子(zǐ),

自(zì) 修(xiū) 齊(qí),至(zhì) 平(píng) 治(zhì)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Tác trung dung, Tử Tư bút
Trung bất thiên, Dung bất dịch
Tác đại học, nãi Tăng Tử
Tự tu tề, chí bình trị

--------------------

TẠM DỊCH

Cuốn Trung Dung, do Tử Tư viết
Trung: nghĩa là không lệch
Dung: nghĩa là không đổi
Cuốn Đại Học, do Tăng Tử viết
Từ tu thân tề gia
Đến trị quốc bình thiên hạ

--------------------

TỪ VỰNG

(1) tác (作):viết
(2) Trung Dung (中庸):tên một chương trong cuốn Lễ Ký, tương truyền là Tử Tư (cháu nội Khổng Tử) viết
(3) Tử Tư (子思):Khổng Cấp, cháu nội Khổng Tử (con trai của Khổng Lý)
(4) bút (笔):viết
(5) thiên (偏):không thẳng. Bất thiên: cần ở giữa, đi đường chính
(6) dịch (易):thay đổi
(7) Đại học (大学):tên một chương trong Lễ Ký, tương truyền là do Tăng Tử (học trò của Khổng Tử) viết.
(8) Tăng Tử (曾子):học trò của Khổng Tử, tên là Sâm, tên chữ là Tử Dư. Tăng Sâm nhỏ hơn Khổng Tử 46 tuổi. Ông là một người chí hiếu với cha mẹ, người đời sau liệt ông vào một trong “Nhị thập tứ hiếu”
(9) tự (自):từ, bắt đầu từ
(10) tu tề (修齐):gọi tắt của tu thân, tề gia
(11) bình trị (平治):gọi tắt của “trị quốc bình thiên hạ”
--------------------

DỊCH NGHĨA

Cuốn Trung Dung do Tử Tư viết. Chữ “trung” trong Trung Dung là có nghĩa là khi xử lý các sự việc cần công minh, không thiên lệch bên nào, đi đường giữa. Còn chữ “dung” có nghĩa là một người cần phải giữ tâm bình ổn, thì mới không dễ bị thay đổi.

Người viết cuốn Đại Học là Tăng Tử, nội dung nói về đạo lý tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Bạn cho rằng nguyên nhân làm cho một người bình thường không hành xử công bằng chính trực là gì?

(2) Trong bài có đề cập đến “tự tu thân, chí bình trị”, tại sao tu thân lại là gốc rễ của tất cả? Hãy lấy ví dụ chứng minh.

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Nho nhã lịch sự mới là quân tử”

Một hôm, Khổng Tử rảnh rỗi ngồi ở nhà, bèn nói với con trai Khổng Lý: “Quân tử không thể không học tập, gặp mặt người khác không thể không ăn mặc gọn gàng, không chau chuốt thì sẽ hiện ra vẻ không chỉnh tề, không sạch sẽ gọn gàng thì tức là không tôn trọng người khác, mà đã không tôn trọng người khác thì bằng như thất lễ. Thất lễ thì không thể tự lập trên đời được. Người đứng ở nơi xa mà người khác cũng biết đến, chính là kẻ ăn mặc trải chuốt chỉnh tề sạch sẽ; khi tiếp cận với người khác có thể làm người thấu hiểu rằng mình là người có học vấn uyên bác”.

Khổng Lý nghe xong bèn hỏi: “Vậy ý phụ thân có nghĩa là người quân tử nhất định phải chú trọng tới vẻ bề ngoài. Nhưng chẳng phải phụ thân vẫn thường dạy con rằng người quân tử chỉ cần giữ được bản chất là được rồi, không cần chú trọng tới những gì văn hoa sao?

Khổng Tử nói: “Này con, con vẫn chưa hiểu ý của ta. Bề ngoài và bản chất đều quan trọng như nhau, dáng vẻ và tính tình đều hoàn mỹ cả thì mới có thể thành người quân tử. Nếu một người quá chất phác, thì sẽ biểu hiện lỗ mãng và trở nên thô kệch. Nhưng cũng không thể quá chú trọng vẻ ngoài. Nếu như một người quá nghiêng về vẻ ngoài, vẻ ngoài lại lấn át phần chất phác bên trong thì lại trở thành hư giả, khoe khoang. Lời ngon tiếng ngọt được ngụy trang bằng vẻ hiền lành, loại người này là loại thiếu nhân đức. Chỉ có vẻ ngoài và bên trong kết hợp đều nhau thì mới là người quân tử”.

Quân tử là mẫu nhân cách lý tưởng và nhân cách điển hình của nhà Nho, là tiêu chuẩn và tấm gương cho người bình thường noi theo. Nhưng để trở thành quân tử cũng không phải là chuyện dễ dàng, điều yêu cầu là quan hệ giữa văn và chất phải nắm vững không thiên lệch bên nào. Nho nhã lịch sự mới là quân tử, cũng là biểu hiện về đạo trung dung của nhà Nho, Nho gia giảng “quá do bất cập” (tức là việc gì mà làm quá thì cũng giống như chưa làm được), người quá chú trọng vẻ ngoài hoặc quá suồng sã đơn giản thì đều không thể coi là quân tử. Chỉ có cử chỉ văn nhã và chất phác kết hợp xác đáng thì mới đạt tới cảnh giới của người quân tử.

--------------------

VIẾT VỀ TÂM ĐẮC

(1) Trong câu chuyện trên, Khổng Tử nói với Khổng Lý về thế nào là quân tử? Hãy thử nói lại nào.

(2) Bạn thấy nên làm thế nào để luôn tuân theo đạo lý trung dung?

Bài 16


LUẬN NGỮ GIẢ

======================

KINH VĂN

論(lún) 語(yǔ) 者(zhě),二(èr) 十(shí) 篇(piān),

群(qún) 弟(dì) 子(zǐ),記(jì) 善(shàn) 言(yán)。

孟(mèng) 子(zǐ) 者(zhě),七(qī) 篇(piān) 止(zhǐ),

講(jiǎng) 道(dào) 德(dé),說(shuō) 仁(rén) 義(yì)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Luận ngữ giả, nhị thập thiên
Quần đệ tử, ký thiện ngôn
Mạnh tử giả, thất thiên chỉ
Giảng đạo đức, thuyết nhân nghĩa

--------------------

TẠM DỊCH

Sách Luận Ngữ, có hai mươi thiên
Do các đệ tử ghi chép lại lời dạy hay
Sách Mạnh Tử, chỉ có bảy thiên
Giảng về đạo đức nói về nhân nghĩa

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Luận ngữ (論 語):tên một cuốn sách. Cuốn Luận Ngữ này có tổng cộng 20 thiên, do học trò của Khổng Tử ghi chép lại những lời dạy hay của Khổng Tử và soạn thành sách.
(2) giả (者):chỉ cuốn sách Luận Ngữ
(3) thiên (篇):lượng từ, đơn vị tính các bài văn hoặc thơ
(4) quần (群):nhiều
(5) đệ tử (弟子):học sinh, học trò
(6) ký (記):ghi chép
(7) thiện (善):tốt đẹp, hay
(8) ngôn (言):lời nói
(9) Mạnh Tử (孟子): tên một cuốn sách
(10) chỉ (止):chỉ có
(11) đạo đức (道德):từ này có nguồn gốc từ cuốn Đạo Đức Kinh. “Đạo” là lý của Thần, là con đường người trở về Thần, là cái chân thực của vũ trụ. “Đức” là ý niệm của con người phù hợp với ý chỉ của Thần, là hành vi tuân theo đặc tính của “Đạo”, thể hiện tại thế gian chính là phẩm chất chân thành và hành vi thiện lương của con người.
(12) Nhân nghĩa (仁義):nhân ái chính nghĩa, khoan dung chính trực

--------------------

DỊCH NGHĨA

Cuốn Luận Ngữ có tổng cộng 20 thiên, do học trò của Khổng Tử ghi lại những lời dạy hay của Khổng Tử.

Cuốn Mạnh Tử do Mạnh Kha soạn, có tổng cộng 7 thiên. Nội dung cuốn sách nói về đạo đức nhân nghĩa.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Điểm đặc sắc của cuốn Luận Ngữ là gì? Bạn đã đọc qua cuốn Luận Ngữ chưa? Hãy lựa chọn một đoạn để chia sẻ cùng mọi người nào.

Đáp án tham khảo: cuốn sách này là tác phẩm quan trọng đại biểu cho Nho gia, cũng là một trong bốn cuốn tứ thư, tư tưởng chủ yếu xoay quanh nhân nghĩa, là cuốn sách tham khảo chỉ đạo cho việc đối nhân và xử lý các sự việc.

(2) Câu nói nào có ảnh hưởng sâu sắc với bạn? Câu đó do ai nói? Câu nói đó đã gợi mở cho bạn điều gì?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Câu chuyện về Khổng Tử”

Khổng Tử tên Khâu, tự Trọng Ni, người nước Lỗ thời Xuân Thu. Cha Khổng tử qua đời khi ông lên ba tuổi, trong nhà chỉ còn hai mẹ con Khổng Tử. Mặc dù gia cảnh nghèo đói, nhưng Khổng Tử rất thích đọc sách, lại rất yêu thích học tập lễ chế.

Khổng Tử bắt đầu công việc dạy học khi ông ngoài 30 tuổi. Do thời đó chưa phổ cập giáo dục, ngoài vương tôn quý tộc, thì người dân bình thường không có cơ hội và khả năng đi học. Vì thế mà Khổng Tử là đầu tiên đề xướng “hữu giáo vô loại” (người trong xã hội đều có quyền được học, được giáo dục, không phân biệt giàu, nghèo) và “nhân tài thi giáo” (dựa và khả năng của từng người mà có cách dạy khác nhau). Ông thu nhận người học trên diện rộng và trở thành người đi đầu và đại biểu cho giáo dục tư nhân, đồng thời cũng đưa đến cơ hội học tập cho mọi người. Dưới sự dạy bảo không mệt mỏi của Khổng Tử, các học trò của ông đều chăm chỉ học tập vươn lên, hơn nữa nhờ đó mà văn hoá dân tộc cũng truyền thừa và được phát huy mạnh mẽ.

Khổng Tử nhận thấy xã hội thời đó có nhiều hiện tượng không công bằng, chính trị thì thiếu đạo nghĩa. Vì để phục vụ xã hội, tạo phúc lợi cho người dân, ông quyết định lấy nhân từ cảm hoá người dân, dùng lễ nghĩa giáo dục người dân. Quả nhiên, chính trị và đạo đức xã hội của nước Lỗ đã hồi phục trở lại, thấy của rơi trên đường không ai nhặt, tối không cần đóng cửa, cũng nhờ đó mà nước Lỗ trở nên cường thịnh.

Nhưng về sau do vua Lỗ Định Công mê luyến nữ sắc, bỏ bê triều chính. Khổng Tử thất vọng nên từ quan, ông dẫn học trò chu du các nước như nước Vệ, nước Tấn, nước Tống, nước Trần, nước Sở để đẩy mạnh áp dụng nền chính trị nhân nghĩa của mình. Đáng tiếc ông đến đâu cũng không được trọng dụng.

Mười bốn năm sau, Khổng Tử lại trở về nước Lỗ. Từ đó ông cũng không quan tâm đến chính trị nữa, mà đặt tâm vào việc dạy học. Khổng Tử có khoảng trên 3.000 học trò, trong đó có 72 người trở thành những bậc hiền tài. Họ truyền bá tư tưởng của Khổng Tử, vì thế mà người đời sau gọi họ là Nho gia. Cuốn Luận Ngữ chính là do học trò các đời của Khổng Tử ghi chép lại những câu nói súc tích có tính giáo dục khích lệ thường ngày của Khổng Tử. Nội dung tuy đơn giản nhưng hàm nghĩa lại sâu xa.

Khổng Tử là người sáng lập Nho gia, là nhà tư tưởng, nhà giáo dục vĩ đại, ông được người đời sau tôn xưng là “vạn thế sư biểu” (bậc thầy muôn đời) và “chí thánh tiên sư” (bậc thầy đã đạt đến bậc thánh hiền).

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 15


PHÀM HUẤN MÔNG

======================


KINH VĂN

凡(fán) 訓 (xùn) 蒙(méng),須(xū)講(jiǎng) 究(jiū),

詳(xiáng) 訓(xùn) 詁(gǔ),名(míng) 句(jù) 讀 dòu)。

為,(wéi) 學(xué) 者(zhě),必(bì) 有(yǒu) 初(chū),

小(xiǎo) 學(xué) 終(zhōng),至(zhì) 四(sì) 書 (shū)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Phàm huấn mông, tu giảng cứu
Tường huấn cổ, danh cú độc
Vi học giả, tất hữu sơ
Tiểu học chung, chí tứ thư

--------------------

TẠM DỊCH

Phàm khi dạy học
Phải xét kỹ lưỡng
Tường tận nghĩa xưa
Ngắt câu rõ ràng
Bởi người đi học
Ắt phải học từ đầu
Hết tiểu học
Rồi học đến tứ thư

--------------------

TỪ VỰNG

(1) 凡 (phàm):phàm là, hễ
(2) 訓 (huấn):dạy bảo
(3) 蒙 (mông):chỉ trẻ nhỏ mới bắt đầu đi học
(4) 須 (tu):ắt phải
(5) 講究 (giảng cứu):chú trọng, coi trọng. Trong bài chỉ về chú trọng phương pháp dạy học.
(6) 詳 (tường):hiểu,
(7) 訓 詁 (huấn cổ):giải nghĩa của từ trong sách cổ
(8) 句讀 (câu đậu):ngắt câu. Trong sách cổ không có dấu câu, cho nên khi đọc sách, chỗ dừng của câu văn, ý hoàn chỉnh được gọi là “cú” (tức là một câu); không có ý hoàn chỉnh mà chỉ dừng một chút gọi là “độc”, giống như dấu phẩy.
(9) 為學 (vi học):học hỏi kiến thức
(10) 者 (giả):người
(11) 初 (sơ):bắt đầu; nghĩa bóng chỉ gốc rễ, cơ sở
(12) 小學(tiểu học):học những điều căn bản; ý trong bài này là tìm hiểu kỹ về hình dạng, âm đọc, nghĩa của chữ
(13) 終 (chung):hoàn thành, kết thúc
(14) 四書 (tứ thư):chỉ về bốn cuốn sách cổ Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học, Trung Dung

--------------------

DỊCH NGHĨA

Khi dạy bảo trẻ nhỏ bắt đầu học, thì thầy giáo cần phải chú trọng đến cách dạy học, cần phải giải thích rõ ràng ý nghĩa từng câu từng chữ, đồng thời dạy trẻ cách ngắt câu khi đọc sách.

Việc học hành trước tiên phải có được nền tảng vững chắc, bằng cách hiểu được ý nghĩa, âm đọc, cách viết của từng chữ, sau đó mới đọc, học và nghiên các sách như Tứ thư.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Theo bạn “học ngắt câu” có quan trọng không? Điều này có ảnh hưởng thế nào đối với việc học tập các sách kinh điển của người xưa?

(2) Bạn có thích tìm hiểu về chữ Trung Quốc không? Bạn thích nhất phần nào? Bạn cho rằng phần nào là khó nhất?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Chữ viết của Trung Quốc”

Chữ viết của Trung Quốc là loại chữ viết thú vị và là một trong những loại chữ đẹp nhất thế giới, mỗi một chữ là một âm tiết, bao gồm hình, âm, ý. Mỗi một nét bút, mỗi một nét vẽ đều ẩn sâu bên trong đó những câu chuyện cảm động. Đối với chữ Trung Quốc, chỉ cần hiểu được nguyên tắc tạo chữ từ thuở sơ khai, hiểu được nguồn gốc xuất xứ của nó, thì dù chữ có khó đến đâu khi nhìn qua cũng khó có thể quên được.

Hình dạng của mỗi một chữ Trung Quốc thường phản ánh ý nghĩa ban đầu của việc tạo ra chữ đó, cũng chính là nghĩa gốc của chữ đó, rồi lại từ chữ gốc đó mà dẫn ra ý nghĩa tương quan, cũng gọi là nghĩa mở rộng hay nghĩa bóng. Chúng ta có thể biết được ý nghĩa và âm đọc của một chữ thông qua bộ thủ cấu tạo nên chữ, tức là thông qua hình dạng của chữa đó. Phần lớn các bộ thủ đều là ghi lại nghĩa của chữ, cho nên nghĩa của một chữ quá nửa có liên quan tới bộ thủ của chữ đó. Những chữ có bộ thủ giống nhau, thì phần lớn những chữ đó có cách đọc gần giống nhau.

Do hàm nghĩa của chữ có thể bị thay đổi theo mỗi thời đại, cho nên để có thể hiểu đúng ý nghĩa của một văn bản thì cần phải tìm hiểu nghiên cứu rõ ý nghĩa của từng câu trong văn bản đó.

Chúng cùng ta lấy bộ thủ “nhật (日)” để làm ví dụ thuyết minh.

Chữ “nhật” trong chữ Giáp cốt giống hình dạng của Mặt Trời. Nghĩa gốc của nó là Mặt Trời. Do đó các chữ có bộ thủ là chữ “nhật”, phần lớn đều có liên quan tới Mặt Trời. Ví dụ như chữ “đán (旦)”, chữ “nhất (一)” là chỉ trên mặt đất, buổi sáng sớm mặt trời vừa mới lên khỏi mặt đất bằng phẳng được gọi là “đán” tức là ngày mới. Như chữ “thị (是)”; có chữ “chính (正)” ở bên dưới, tức là tiến thẳng về phía trước không nghiêng không lệch, có ý nghĩa là đường đi chính xác, đúng đắn. Trong suy nghĩ của người xưa, chữ “nhật (日)” ở phía trên chính là căn cứ của “chính (正)”, do đó nghĩa gốc của chữ “thị” này là “chính” “ngay thẳng”, và có nghĩa mở rộng thêm là “đúng, chính xác”. Chẳng hạn như chữ “thị” trong “thị phi (是非)”, “ nhất vô thị xứ (一无是处: không có chỗ nào đúng cả)” “thực sự cầu thị” (实事求是: từ tình huống thực tế, không thêm không bớt, đối đãi và xử lý vấn đề một cách chính xác) đều có ý nghĩa như đã giải thích ở trên.

Ngoài đó ra, bởi vì trong các sách cổ đều không sử dụng các loại dấu câu, cho nên việc đầu tiên khi thầy giáo lên lớp đó là dạy các học trò cách ngắt câu thế nào cho đúng, để cho các học trò hiểu rõ được bao nhiêu chữ là một câu và đến đâu thì dừng ngắt câu. Làm rõ được chỗ dừng ngắt của các câu trong một văn bản, thì mới có thể đi sâu hơn vào dạy và học.

Các dấu câu là một phần quan trọng trong một văn bản, sử dụng hợp lý thì có thể biểu đạt rõ ràng ý của bài viết. Cùng một câu nhưng thay đổi hoặc di chuyển vị trí dấu câu thì ý nghĩa sẽ sai khác rất nhiều.

Có một câu chuyện thế này: ngày xưa có một người đi chơi xa nhà, vì trời mưa nên anh đành ở nhờ nhà bạn. Anh ở một thời gian dài, người chủ nhà keo kiệt cảm thấy sốt ruột, nhưng lại ngại nói thẳng với bạn mình, thế là anh ta bèn lấy giấy ra và viết : “Hạ vũ thiên lưu khách thiên thiên lưu ngã bất lưu” (trời mưa giữ chân khách ở lại ngày qua ngày, nhưng ta không muốn giữ) với hy vọng vị khách đọc được sẽ biết điều mà mau chóng rời khỏi. Vị khách đọc được mấy chữ đó liền hiểu ngay được ý của chủ nhà, nhưng anh lại quyết định trêu bạn mình một phen. Thế là anh bèn lấy bút viết thêm dấu phẩy sau chữ “lưu khách thiên”, thêm dấu hỏi sau chữ bất “thiên lưu ngã bất?”, và cả câu đã bị sửa thành “hạ vũ thiên, lưu khách thiên, thiên lưu ngã bất? Lưu! (Đại ý: vì trời mưa nên đó là ý trời muốn tôi ở lại).

--------------------

NHẬN THỨC


Bài 14



PHỤ TỬ ÂN


======================

KINH VĂN

父(fù) 子(zǐ) 恩(ēn),夫(fū) 婦(fù) 從(cóng),

兄(xiōng) 則(zé) 友(yǒu),弟(dì)則(zé) 恭(gōng),

長(zhǎng) 幼(yòu) 序(xù),友(yǒu) 與 (yǔ) 朋(péng),

君(jūn) 則(zé) 敬(jìng),臣(chén) 則(zé) 忠(zhōng),

此(cǐ) 十(shí) 義(yì),人(rén) 所(suǒ) 衕(tóng)。

--------------------

PHIÊN ÂM

Phụ tử ân, phu phụ tòng
Huynh tắc hữu, đệ tắc cung
Trưởng ấu tự, hữu dữ bằng
Quân tắc kính, thần tắc trung
Thử thập nghĩa, nhân sở đồng

--------------------

TẠM DỊCH

Cha con có ơn nghĩa, vợ chồng theo nhau
Anh yêu thương em, em biết cung kính
Lớn nhỏ có thứ bậc, bạn bè ngang nhau
Vua thì tôn kính, thần thì trung thành
Mười nghĩa này, mỗi người đều có

--------------------

TỪ VỰNG

(1) Ân (恩):ân tình
(2) Tòng (從):đi theo, theo
(3) Tắc (則):nên, phải
(4) Kính (恭):cung kính
(5) Trưởng (長):trưởng bối, thế hệ trước mình
(6) Ấu (幼):thế hệ sau mình
(7) Tự(序):thứ tự
(8) Hữu(友):cùng lòng ,hiểu nhau, anh em hòa thuận; người có cùng chí hướng;
(9) Bằng(朋):người cùng chí hướng
(10) Kính(敬):kính yêu, kính trọng
(11) Trung (忠):trung thành
(12) Nghĩa (義):đúng với đạo lý, hợp với lẽ phải

--------------------

DỊCH NGHĨA

Giữa cha con với nhau cần có ân tình; vợ chồng với nhau nên tôn trọng nhường nhịn nhau, hòa thuận với nhau. Anh chị em với nhau cần phù hợp với trật tự lớn bé, anh chị cần yêu thương em, em cũng cần phải kính trọng anh chị. Giữa bề trên và bậc con cháu phải phân biệt rạch ròi thứ bậc trên dưới, bạn bè với nhau cần thành thật và tin tưởng nhau. Vua mà đối xử đúng mực với bề tôi, thì bề tôi tự nhiên sẽ nhất mực trung thành không dám hai lòng. Đây là những đạo nghĩa mà mỗi người đều phải tuân thủ và hành xử theo.

--------------------

THẢO LUẬN

(1) Bạn có anh chị em không? Thường ngày bạn và anh chị em mình đối xử với nhau như thế nào? Hãy chia sẻ với mọi người những câu chuyện cụ thể.

(2) Bạn bè sống với nhau, quý ở chữ “chân”, bạn làm thế nào để bạn bè cùng nhau đoàn kết? Bạn nhận được gì khi bạn đối đãi chân thành với người khác?

(3) Thời quân chủ trước đây, người dân cần trung với vua; trong thời đại dân chủ ngày nay, người dân của một nước cũng cần trung thành với đất nước mình, bạn đã từng nghĩ mình sẽ trung thành với đất nước mình như thế nào chưa?

--------------------

CÂU CHUYỆN
“Tình huynh đệ”

Triều Hán có một người tên Triệu Hiếu, tên chữ là Thường Bình. Ông và người em trai Triệu Lễ đều rất yêu thương nhau.

Có năm bị mất mùa, nạn đói khắp nơi. Một nhóm cướp đã chiếm cứ vùng núi Nghi Thu. Một hôm, bọn cướp bắt được Triệu Lễ và chúng muốn ăn thịt anh. Triệu Hiếu chạy đến sào huyệt của bọn cướp, van xin: “Triệu Lễ đang bị bệnh, người lại gầy nữa nên ăn thịt sẽ không ngon. Tôi còn có chút da chút thịt, tôi sẽ thay em trai mình để cho các ông ăn thịt”. Triệu Lễ không chịu, liền nói: “Em bị họ bắt, em chết cũng là số của em, còn anh thì có tội tình gì chứ?” Hai anh em ôm nhau khóc lớn. Bọn cướp bị hai anh em Triệu Hiếu và Triệu Lễ làm cảm động, cuối cùng chúng đã thả họ ra.

Chuyện này về sau truyền đến tai vua, ông liền hạ chiếu thư phong quan cho cả hai anh em họ.


“Lưu Bị ba lần mời Gia Cát Lượng”

Thời Tam Quốc, Thục vương Lưu Bị vì muốn khôi phục lại nhà Hán nên đã đi khắp nơi tìm kiếm nhân tài. Khi ông nghe nói Gia Cát Lượng là người tinh thông binh pháp, trí tuệ hơn người, nên ông dẫn Quan Vũ và Trương Phi đến Nam Dương để mời Gia Cát Lượng xuống núi giúp mình. Họ đi suốt đêm để đến Nam Dương, đúng lúc Gia Cát Lượng vừa có chuyến đi xa không còn ở nhà, ba anh em Lưu bị đành buồn bã trở về.

Không lâu, Lưu Bị nghe nói Gia Cát Lượng đã trở về Nam Dương, trong lòng vui mừng, mặc cho trời đang mưa lớn ông vẫn cùng Quan Vũ và Trương Phi đi đến Nam Dương. Khi họ đến trước cổng nhà Gia Cát Lượng, người hầu liền nói với họ rằng: “Tối qua tiên sinh lại có việc nên đi ra ngoài rồi”. Cả hai lần đều không mời được Gia Cát Lượng nên Quan Vũ và Trương Phi cảm thấy không thể kiên nhẫn được nữa, nhưng Lưu Bị lại không hề nản lòng.

Vài ngày sau, họ đến nhà tranh của Gia Cát Lượng lần thứ ba. Người hầu nói với họ: “Chủ nhân đang ngủ”. Quan Vũ và Trương Phi muốn lập tức gọi Gia Cát Lượng dậy, nhưng Lưu Bị không muốn thế mà lại lặng lẽ ở bên ngoài đợi. Lúc này lại đúng vào thời gian lạnh nhất trong năm, trời mưa to làm cái rét như cắt da cắt thịt, ba anh em Lưu Bị lạnh đến cóng người. Quan Vũ và Trương Phi đã không thể nhẫn chịu được nữa, nhưng Lưu Bị vẫn im lặng chờ đợi không nói lời nào. Một lúc sau, Gia Cát Lượng thức dậy, ông vô cùng cảm động khi nghe nói ba anh em Lưu Bị đã đợi rất lâu ở ngoài, thế rồi ông mời ba người họ vào nhà cùng bàn chuyện quốc gia đại sự.

Lưu Bị rất hiểu và khâm phục Gia Cát Lượng, Gia Cát Lượng vì cảm kích thành ý và sự trọng dụng nhân tài của Lưu Bị mà mang ơn, vì thế ông đã đồng ý phò tá Lưu Bị xây dựng đại nghiệp. Thậm chí khi Lưu Bị qua đời, nhận lời ủy thác của Lưu Bị, ông vẫn tiếp tục phò tá con trai Lưu Bị là Lưu Thiền, cuối cùng ông đã qua đời vì phải lo quá nhiều việc, thật đúng là “Cúc cung tận tụy, làm đến hơi thở cuối cùng.”

--------------------

NHẬN THỨC

Bài 48

ẤU NHI HỌC ====================== KINH VĂN 人遺子,金滿籯; 我教子,惟一經。 勤有功,戲無益; 戒之哉,宜勉力。 -------------------- PHIÊN ÂM Nhân di tử, kim mãn doanh; Ng...